<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Scientist &#8211; HỘI THẢO VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ 7</title>
	<atom:link href="https://icvns2025.vnu.edu.vn/en/scientist/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn</link>
	<description>Hội nhập và Phát triển</description>
	<lastBuildDate>Mon, 09 Jun 2025 04:35:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	

<image>
	<url>https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/cropped-icvns2025-vnu-edu-vn-2-32x32.png</url>
	<title>Scientist &#8211; HỘI THẢO VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ 7</title>
	<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>GS.TS FURUTA MOTOO </title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/en/gs-ts-furuta-motoo-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 May 2025 06:21:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Scientist]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=11580</guid>

					<description><![CDATA[GS.TS Furuta Motoo: Người thầy gieo hạt giống tri thức, kết nối hai dân tộc bằng trái tim &#8220;Việt Nam là mối tình đầu và cũng là mối tình thủy chung của tôi suốt nửa thế kỷ nay. Có thể nói rằng tôi là một nhà khoa học nước ngoài Made in Vietnam&#8221; – GS.TS...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p style="text-align: justify;"><b>GS.TS Furuta Motoo: Người thầy gieo hạt giống tri thức, kết nối hai dân tộc bằng trái tim</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8220;Việt Nam là mối tình đầu và cũng là mối tình thủy chung của tôi suốt nửa thế kỷ nay. Có thể nói rằng tôi là một nhà khoa học nước ngoài Made in Vietnam&#8221; – GS.TS Furuta Motoo, Hiệu trưởng Trường ĐH Việt Nhật, ĐHQGHN chia sẻ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là nhà nghiên cứu Việt Nam học hàng đầu tại Nhật Bản, chuyên gia uy tín về lịch sử và chính trị Việt Nam, GS.TS Furuta không chỉ giảng dạy bằng kiến thức, mà còn bằng cả sự đồng hành, thấu hiểu và tình yêu với đất nước này. Ông sử dụng thành thạo tiếng Việt, dành cả sự nghiệp để nghiên cứu về Việt Nam. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">GS.TS Furuta Motoo từng là Hiệu trưởng Trường Đại cương, Đại học Tokyo (2001-2002); Nguyên Phó Giám đốc Đại học Tokyo (2004 &#8211; 2006); Nguyên Giám đốc Thư viện Đại học Tokyo (2009 &#8211; 2015). Và hiện là Hiệu trưởng Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đóng góp của ông đã được ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Giáo sư được Đại học Quốc gia Hà Nội trao bằng Tiến sĩ danh dự, Huy chương Hữu nghị (năm 1980); Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ (năm 2012); Huân chương Hữu nghị (năm 2013). </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN di sản lớn nhất mà ông để lại không nằm ở những danh hiệu – mà ở tâm huyết xây dựng, phát triển trường, và hơn cả là tấm lòng dành cho sinh viên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mới đây, khi được nhận Giải thưởng Bảo Sơn, Giáo sư Hiệu trưởng đã trích 1 tỷ đồng để đóng góp vào quỹ học bổng cho sinh viên VJU. Trước đó, ông vẫn âm thầm, bền bỉ đóng góp, đặc biệt là dành phần lớn các giải thưởng, nhuận bút viết sách để trao tặng học bổng cho sinh viên (tổng giá trị tích lũy gần 700 triệu đồng). </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Trường ĐH Việt Nhật, trong hầu hết các đợt trao học bổng, cái tên học bổng Thầy Furuta luôn là một phần thưởng quý giá dành cho những sinh viên ưu tú, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc các hoạt động kết nối đào tạo, nghiên cứu của sinh viên, học viên với Nhật Bản. Ví dụ, năm 2020, ông dành 2 triệu yên từ Giải thưởng Daido Seimei – giải thưởng danh giá của Chính phủ Nhật Bản – để hỗ trợ các sinh viên khóa đầu tiên ngành Nhật Bản học. Bên cạnh đó, bằng uy tín và tình cảm của mình, GS. Furuta cũng kết nối và kêu gọi tài trợ thông qua các câu lạc bộ khoa học, các doanh nhân, trí thức Nhật Bản tài trợ cho sinh viên Trường ĐHVN, như quỹ Azabu (1.3 triệu JPY và 155 triệu đồng), Mr. Takehara (200tr đồng) và nhiều tổ chức khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hàng năm, học bổng mang tên GS Furuta vẫn luôn tiếp tục được duy trì tại VJU, là nguồn động viên lớn lao và thiết thực cho những bạn sinh viên trên con đường theo đuổi tri thức </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cảm ơn GS. Furuta Motoo – người đã dành trọn tâm huyết để trở thành “cầu nối tri thức” giữa hai nền văn hóa Việt – Nhật!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nguồn: FB của Đại học Quốc gia Hà Nội</b></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS. Momoki Shiro</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/en/gs-momoki-shiro-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 May 2025 06:20:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Scientist]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=11578</guid>

					<description><![CDATA[GS.TS Momoki Shiro (Đại học Việt &#8211; Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội): “Tôi vẫn giữ các số báo Hànội mới những năm 1980” Giáo sư, Tiến sĩ (GS.TS) Momoki Shiro (sinh năm 1955) là Giáo sư Lịch sử Đại học Quốc gia Osaka (Nhật Bản), hiện là chuyên gia JICA làm việc tại...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p><b>GS.TS Momoki Shiro (Đại học Việt &#8211; Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội): “Tôi vẫn giữ các số báo Hànội mới những năm 1980”</b></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Giáo sư, Tiến sĩ (GS.TS) Momoki Shiro (sinh năm 1955) là Giáo sư Lịch sử Đại học Quốc gia Osaka (Nhật Bản), hiện là chuyên gia JICA làm việc tại Chương trình Khu vực học, Đại học Việt &#8211; Nhật (Đại học Quốc gia Hà Nội).</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Thuộc thế hệ thứ 3 của các nhà Việt Nam học người Nhật, GS.TS Momoki Shiro đến Việt Nam ngay từ những năm bắt đầu đổi mới (1986). Và Hànộimới cùng Nhân Dân là những tờ báo đầu tiên ông đã đọc hằng ngày để cập nhật tin tức, học tiếng Việt.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hơn 30 năm nghiên cứu, sống ở Việt Nam, ông nói: “Ở Osaka, tôi vẫn giữ những tờ báo và bài báo Hànộimới những năm 1980 về lịch sử, văn hóa”.</span></p>
<p><b>Đọc báo &#8211; Cách thu nạp thông tin hữu hiệu</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Các sinh viên, học viên, giảng viên Trường Đại học Việt &#8211; Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội, lâu nay đã quen thuộc với hình ảnh vị giáo sư Nhật Bản của chương trình Khu vực học thường xuyên ăn sáng, ăn trưa ở các quán ăn văn phòng, sinh viên. Ông ưa thích những món bình dị của ẩm thực Việt như xôi, bún chả, cơm rang, bánh mì&#8230; và đôi khi “ra đề” cho các học trò trên Facebook một cách thú vị: “Hãy nghĩ ra đề tài nghiên cứu khu vực học liên quan đến các đồ uống này”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Có lớp sinh viên trẻ trung, nghịch ngợm gọi ông trìu mến là “Thầy Đào” dịch từ tên “Momoki” (cây đào theo tiếng Nhật) trong tên ông &#8211; Momoki Shiro. Và, cũng từ cái tên Việt Nam “Đào Chí Lãng” mà ông tự đặt để bày tỏ tình cảm với Việt Nam.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Từ khi còn là một học sinh trung học, tiếp nhận tin tức về chiến tranh Việt Nam qua truyền hình, Momoki Shiro đã mong muốn nghiên cứu về Việt Nam. Năm 1986, ông sang Việt Nam học tiếng Việt và nghiên cứu, đến nay hơn 30 năm đi về giữa Việt Nam và Nhật Bản, ông được xem là nhà sử học, nhà Việt Nam học có nhiều đóng góp cho Việt Nam, cho Hà Nội.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Momoki Shiro cho thấy điều quan trọng với một nhà nghiên cứu nước ngoài khi sống ở Việt Nam là khả năng hòa nhập như một nhà dân tộc học vào đời sống bản địa. Ông thích đi du lịch một mình và “3 cùng” với người dân nơi ông tới.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông nói vui mà cũng là chắt lọc từ hành trình quan sát, nghiên cứu của mình, rằng “Bánh mì Việt Nam cũng là một thành tựu của đổi mới”. Hay như cách ông dặn dò sinh viên: “Giấy giới thiệu của trường đại học không có tác dụng gì đâu, muốn phỏng vấn các cụ ở làng thì phải ngồi xuống và uống chén rượu”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Cũng như vậy, một trong những cách để thu nạp tin tức và hiểu đất nước con người bản địa là đọc báo. Giáo sư Momoki chia sẻ: “Từ tháng 10-1986, khi sang Việt Nam tôi đã đọc Báo Hànộimới và Nhân Dân. Sau này thói quen hằng ngày của tôi cũng là uống cà phê và đọc báo mỗi sáng. Ở nhà riêng của tôi tại Osaka, tôi vẫn giữ những tờ báo và bài báo Hànộimới, ví như tờ báo có sự kiện Đại hội Đảng, các bài báo về văn hóa thú vị. Hiện nay, không thể phủ nhận lợi ích to lớn của internet, nhưng tôi vẫn thích đọc báo giấy”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Momoki Shiro cũng nhắc đến hình ảnh những sạp bán báo tại Hà Nội mà nay không còn nữa, và cả những thách thức mà báo chí đang phải đối diện.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông cũng cho biết: “Những năm 1980, các tờ báo lớn Nhật Bản ở vào thời kỳ đỉnh cao. Có báo phát hành cả bản buổi sáng như Asahi Shimbun, Mainichi Shimbun. Thời phát xít Nhật, các tờ báo chỉ có 4 trang, sau đó dần dần lên 8 trang, 12 trang, rồi 16 trang, 20 trang, nhiều nhất là tờ chủ nhật lên tới hơn 30 trang. Những năm 1970 &#8211; 1980, bình quân bản buổi sáng 24 trang, buổi chiều 12 trang. Tuy nhiên, báo giấy gần đây giảm tờ buổi chiều và giảm cả số trang”.</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-11755 aligncenter" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-300x175.jpg" alt="GS. Momoki Shiro" width="300" height="175" srcset="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-300x175.jpg 300w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-1024x597.jpg 1024w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-768x447.jpg 768w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-600x350.jpg 600w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24.jpg 1186w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></span></i></p>
<p style="text-align: center;"><i><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Momoki Shiro (ngoài cùng bên trái) đến Việt Nam từ những năm bắt đầu đổi mới đất nước (1986).</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Mặc dù vậy, Giáo sư Momoki Shiro cũng khẳng định, nhiều giáo viên trung học Nhật Bản vẫn hướng dẫn học sinh đọc báo bên cạnh việc học sách giáo khoa. Khoa sử Trường Đại học Quốc gia Osaka yêu cầu sinh viên đọc báo, sách giấy đối với hoạt động nghiên cứu khoa học.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông dẫn ra một câu chuyện thú vị, việc đọc tài liệu sách báo giấy với giới nghiên cứu còn giúp phân biệt tài liệu thật &#8211; giả, thông qua xác định niên đại tài liệu từ chất liệu giấy, cách thức in ấn… Tại Trường Đại học Việt &#8211; Nhật, hình ảnh của GS.TS Momoki Shiro xuất hiện trên giảng đường luôn gắn với một chồng sách tham khảo.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Phạm Hà Trang, sinh viên ngành Nhật Bản học, lớp BJS2020 (Trường Đại học Việt &#8211; Nhật) bày tỏ: “Giáo sư Momoki luôn khuyến khích sinh viên tham khảo tài liệu, sách báo để mở mang kiến thức, hướng tới việc “tự học suốt đời”. Bên cạnh việc giới thiệu tới sinh viên những tác phẩm hay, thầy luôn sẵn sàng mở thêm những lớp học bổ sung ngay cả khi môn học đã kết thúc”.</span></p>
<p><b>“Mong Hà Nội có thêm những mô hình phát huy bản sắc văn hóa”</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Là giáo sư về lịch sử châu Á và đặc biệt là lịch sử thời Lý, Trần của Việt Nam, GS.TS Momoki Shiro đã có mặt trong đoàn chuyên gia nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long và dự Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long &#8211; Hà Nội.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông từng dành tặng khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, hơn 700 cuốn sách nghiên cứu về Đông Á, Đông Nam Á, Việt Nam mà ông sưu tầm từ nhiều năm để tri ân nơi ông từng học tập, nơi có những nhà khoa học lớn mà ông khẳng định mình “chịu ảnh hưởng mạnh mẽ” như Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Trần Quốc Vượng, Giáo sư Hà Văn Tấn.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hơn 30 năm nghiên cứu về Việt Nam, ông mang đến các công trình nghiên cứu với phương pháp tiếp cận mới của sử học toàn cầu. Một số đề tài tiêu biểu như thiết chế chính trị Việt Nam thời Lý, Trần; biến đổi xã hội Đại Việt thế kỷ XIV qua văn khắc &#8211; khảo sát trường hợp vùng Hà Tây; nghiên cứu lịch sử Chămpa và thương mại biển Đông Á &#8211; Đông Nam Á&#8230;</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Tri thức của ông là sự kết hợp của đọc và sống với đời sống hằng ngày một cách vừa cẩn trọng, nghiêm túc vừa gần gũi, thấu hiểu. Những chuyến điền dã nghiên cứu khu vực học có sự tham gia của GS.TS Momoki Shiro đầy ắp những kiến giải thú vị, bổ ích cho người làm khoa học.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Chia sẻ về Hà Nội, ông có những góc nhìn so sánh với cố đô Kyoto nghìn năm tuổi của Nhật Bản: “Hà Nội phát triển rất nhanh, tâm tính con người, xã hội cũng có nhiều thay đổi, có điểm giống và khác với Kyoto. Tôi hay nhớ lại kỷ niệm của mình khi ở Kyoto. Ở Kyoto, phải có 3 đời từng sống tại đây mới được chấp nhận là dân cố đô. Về cơ bản là dân Kyoto vẫn tự hào về nền nếp lâu đời của mình. Giới khoa học Nhật Bản cũng ghi nhận vai trò Kyoto trong lịch sử và văn hóa”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">GS.TS Momoki Shiro cũng cho biết, thủ đô Tokyo thì phát triển kinh tế, cố đô Kyoto thì kêu gọi giữ gìn bản sắc văn hóa. Kyoto không có hiện tượng di dân mạnh, dân số gần như ổn định trong 50 năm qua, thành phố có những khu công nghiệp nhưng rất hạn chế. Tuy nhiên, Kyoto lại phải đối phó với vấn đề giao thông (tắc đường trên các đường phố cổ, hẹp và ô nhiễm không khí).</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trong điều kiện như vậy, lịch sử phát triển Kyoto đã ghi nhận một số mô hình sản xuất và kinh doanh rất mới mẻ như triết lý kinh doanh của ông Inamori Kazuo (đã có sách dịch sang tiếng Việt), rồi là nhà máy Nintendo sản xuất đồ chơi điện tử nổi tiếng thế giới, thành lập năm 1889 tại Kyoto&#8230; Các mô hình này đặt mục tiêu mang lại hạnh phúc cho nhân viên trước hết và đều không ngừng tìm kiếm, sáng tạo sản phẩm cạnh tranh.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Qua những chia sẻ trên, ông bày tỏ hy vọng, Hà Nội sẽ đưa ra mô hình sáng tạo độc đáo để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa cũng như bề dày lịch sử của thành phố. Bởi đây chính là nền tảng để phát triển bền vững.</span></p>
<p><b>Theo Hải Miên, Báo Hà Nội mới.</b></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Prof. Dr. Phan Huy Le</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/en/prof-dr-phan-huy-le/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 May 2025 17:54:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Scientist]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=10307</guid>

					<description><![CDATA[Giáo sư Phan Huy Lê sinh ngày 23/2/1934 tại làng Thu Hoạch, xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà (nay là huyện Lộc Hà), tỉnh Hà Tĩnh - một vùng quê văn hiến của xứ Nghệ, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, trọng tình nghĩa, cần cù và hiếu học. Cả hai dòng họ nội, ngoại của GS. Phan Huy Lê đều là những dòng họ khoa bảng nổi tiếng với những danh nhân văn hoá lớn như Phan Huy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy... Cụ thân sinh là Phan Huy Tùng, tiến sĩ Nho học, từng làm quan trong triều đình Huế, nổi tiếng thanh liêm, phúc đức, nhân hậu, hết mực yêu con, quý cháu.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><div class="clearfix">
<div class="hometext m-bottom"></div>
<figure class="article center"><img decoding="async" class="img-thumbnail" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ngnd-phan-huy-le.jpg" alt="GS.NGND Phan Huy Lê - chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam" width="500" /><figcaption>GS.NGND Phan Huy Lê &#8211; chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam</figcaption></figure>
</div>
<div id="news-bodyhtml" class="bodytext margin-bottom-lg">
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ngnd-phan-huy-le-1.jpg" alt="" /></p>
<p><em>Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê &#8211; nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại, nguyên Chủ nhiệm đầu tiên Khoa Đông phương học, Trường ĐHKHXH&amp;NV</em></p>
<p>Năm 1952, khi 18 tuổi, Phan Huy Lê rời gia đình ra học Dự bị Đại học ở Thanh Hoá và tại đây ông có cơ hội được tiếp xúc với những trí thức cách mạng hàng đầu của đất nước. Vốn là học sinh có năng khiếu và ham mê khoa học tự nhiên, ông dự định chọn Toán &#8211; Lý cho tương lai nghề nghiệp của mình, nhưng dường như số phận đã định trước cho ông con đường trở thành nhà Sử học. GS. Trần Văn Giàu và GS. Đào Duy Anh là những người đầu tiên nhận ra những phẩm chất ở Phan Huy Lê và hướng ông vào học Ban Sử &#8211; Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.</p>
<p>Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành lập gồm 4 khoa: Toán &#8211; Lý, Hoá &#8211; Sinh, Văn và Sử. Phan Huy Lê vừa tốt nghiệp cử nhân Sử &#8211; Địa đã được nhận ngay vào Tổ Cổ sử thuộc Khoa Lịch sử dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của GS. Đào Duy Anh. Ngay từ khi đi học, ông đã được các thầy tin cậy giao làm trợ lý giảng dạy. Sau khi tốt nghiệp, ông vừa chính thức đứng lớp, vừa được các giáo sư Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh giao cho viết bài giảng và đảm nhiệm các công việc của những chuyên gia thực thụ. Có lẽ vì thế mà chỉ 2 năm sau, khi GS. Đào Duy Anh chuyển công tác về Viện Sử học, mới 24 tuổi đời, ông đã vững vàng trong trọng trách của một Chủ nhiệm bộ môn đứng mũi chịu sào tổ chức và xây dựng một ngành học giữ vị trí then chốt trong hệ thống các môn học về khoa học xã hội Việt Nam.</p>
<p>Dấn thân vào nghề Sử, Phan Huy Lê quan niệm kinh tế &#8211; xã hội là cơ sở nền tảng của toàn bộ lịch sử. Nước ta là một nước nông nghiệp nên nghiên cứu kinh tế &#8211; xã hội Việt Nam truyền thống không thể không bắt đầu từ nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Điều này giải thích vì sao những ấn phẩm đầu tiên trong sự nghiệp khoa học của ông là <em>Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ</em> (1959), <em>Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn</em> (1959), <em>Lao động và làm thuê trong xã hội phong kiến Việt Nam</em> (1959)… Tính ra có 5 công trình lớn trong giai đoạn 5 năm đầu bước vào nghề của ông thuộc về lĩnh vực kinh tế &#8211; xã hội.</p>
<p>Khi Phan Huy Lê vừa mới tạo lập được vị trí của mình trong nghiên cứu về kinh tế &#8211; xã hội thì cũng là lúc đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Tự ý thức trách nhiệm công dân phải tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc, Phan Huy Lê chuyển sang nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và những trận đánh lớn trong lịch sử. Những công trình <em>Khởi nghĩa Lam Sơn</em> (1965);<em> Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam</em> (1973), <em>Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc</em> (1976), <em>Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288</em> (1988)&#8230; được hoàn thành trong điều kiện như thế và đã trở thành những tác phẩm lịch sử quân sự tiêu biểu.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ngnd-phan-huy-le-2.jpg" alt="" /></p>
<p><em>GS.NGND Phan Huy Lê là chuyên gia đầu ngành về Lịch sử Việt Nam. Tên tuổi, tài năng và nhân cách của ông đã trở thành huyền thoại, thành niềm kiêu hãnh và tấm gương sáng cho các thế hệ học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế.</em></p>
<p>Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Phan Huy Lê tiếp tục dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài chống ngoại xâm. Trong khoảng 15 năm (1975-1989), ông viết đến trên 24 công trình lớn, chưa kể hàng chục bài báo và tham luận về đề tài này. Nói đến Phan Huy Lê người ta nghĩ ngay đến chuyên gia hàng đầu về lịch sử chống ngoại xâm với số lượng vượt trội các công trình nghiên cứu và với những tổng kết sâu sắc đã trực tiếp góp vào những chiến công chung của đất nước. Mảng đề tài này, ông có 50 trên tổng số 408 công trình đã hoàn thành (chiếm 12,2%).</p>
<p>Tuy nhiên, điều mà Phan Huy Lê trước sau đặc biệt quan tâm là những vấn đề về kinh tế &#8211; xã hội, hình thái kinh tế &#8211; xã hội và các thể chế chính trị &#8211; xã hội trong lịch sử Việt Nam trước Cận đại. Mỗi khi có cơ hội, ông lại tranh thủ trở về với đề tài chế độ ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, nông dân và làng xã cổ truyền. Số công trình ông viết riêng về mảng kinh tế &#8211; xã hội là 51 (chiếm 12,5%), trong đó tiêu biểu là các tác phẩm viết về phong trào nông dân Tây Sơn, các cuốn sách, chuyên đề về sự phát triển hình thái kinh tế &#8211; xã hội, kết cấu kinh tế &#8211; xã hội, làng xã của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ… Ngoài ra, ông luôn tiên phong đi sâu khai thác những nguồn tư liệu liên quan như địa bạ, châu bản, gia phả&#8230; kết hợp với điều tra khảo sát thực địa.</p>
<p>Phan Huy Lê bắt đầu mở rộng sang nghiên cứu lĩnh vực văn hoá &#8211; truyền thống từ giữa những năm 1970 và sự quan tâm của ông đến lĩnh vực này càng ngày càng toàn diện với số lượng trung bình là 64 (chiếm 15,72%). Những công trình tiêu biểu là <em>Truyền thống và cách mạng</em> (1982), <em>Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam</em> (1988), <em>Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay </em>(3 tập, 1994, 1996, 1997), <em>Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại </em>(2002) và hệ thống các bài viết về di sản văn hoá của di sản Trung tâm Hoàng thành Thăng Long&#8230;</p>
<p>Có thể hình dung toàn bộ trước tác của GS. Phan Huy Lê được chia thành 7 lĩnh vực chủ yếu, với số công trình từ 41 đến 92 (trung bình 58) cho mỗi lĩnh vực. Nhưng trách nhiệm lớn nhất đặt ra cho GS. Phan Huy Lê không phải là từng mảng lịch sử cụ thể mà là tổng kết lịch sử đất nước. Ngay từ năm 1959, nghĩa là khi mới bắt tay viết những trang bản thảo đầu tiên, ông đã có một tập bài giảng <em>Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858</em>. Liên tiếp 2 năm sau, ông cho ra mắt <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em> tập II (1960) và <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam </em>tập III (1961), góp phần làm nên tầm vóc của Khoa Lịch sử. Năm 1971, ông cùng Trần Quốc Vượng viết <em>Lịch sử Việt Nam</em> tập I, được coi là cuốn thông sử đầu tiên của chế độ mới. Trong thời gian này hàng loạt các bài giảng, giáo trình khác về <em>Lịch sử Việt Nam</em> ra đời (vào các năm 1966, 1970, 1978&#8230;) làm cơ sở cho sự xuất hiện <em>Lịch sử Việt Nam</em> tập I (1983) &#8211; một cuốn sách tổng kết lịch sử Việt Nam từ thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ thứ X tương đối đầy đủ và cập nhật. Đặc biệt gần đây, trong đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước xây dựng bộ sách <em>Lịch sử Việt Nam</em> 4 tập, GS. Phan Huy Lê vừa là chủ biên, vừa là tác giả chính của 2 tập I và II, được coi là tổng kết cao nhất về giai đoạn lịch sử từ nguồn gốc cho đến giữa thế kỷ XIX.</p>
<p>Không chỉ dồn tâm, dồn sức viết các bộ thông sử, các tập giáo trình, Phan Huy Lê còn là tác giả của nhiều công trình lịch sử địa phương. Trân trọng và đề cao kinh nghiệm viết sử truyền thống, ông lại chính là người đi tiên phong hiện đại hoá và cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới. Số lượng các công trình tổng kết lịch sử, những bài giảng, giáo trình và các bộ thông sử có tầm khái quát cao của ông vì thế lên đến 41 công trình (chiếm 10,0%), tạo nên sự hoàn hảo và trội vượt trong phẩm chất và tính cách sử học Phan Huy Lê.</p>
<p>Tầm uyên bác trong các công trình Sử học của GS. Phan Huy Lê bắt nguồn từ trách nhiệm cao cả của một người Thầy, vì theo ông, dạy đại học là dạy kết quả nghiên cứu của chính mình.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ngnd-phan-huy-le-3.jpg" alt="" /></p>
<p><em>GS.NGND Phan Huy Lê và GS.NGND Đinh Xuân Lâm &#8211; hai nhà Sử học nổi tiếng, niềm tự hào của Khoa Lịch sử, của Trường ĐHKHKXH&amp;NV.</em></p>
<p>Hơn nửa thế kỷ qua, ngoài việc giảng dạy chính ở Khoa Lịch sử, Ông còn dạy cho nhiều lớp ở trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội, các trường đại học trên thế giới, như Đại học Paris VII (Pháp), Đại học Amsterdam (Hà Lan)&#8230; Hàng nghìn học trò qua ông đào tạo, nhiều người đã thành đạt, đang giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy ở trung ương và địa phương, ở trong nước và nước ngoài. Ông cũng là một trong những chuyên gia đầu tiên của nền giáo dục mới Việt Nam tham gia giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn và phản biện nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế, trong đó có 17 học trò trực tiếp của ông đã bảo vệ thành công các luận án tiến sĩ, tiến sĩ khoa học.</p>
<p>Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo Sử học, ông còn được giao trách nhiệm xây dựng hai ngành học mới là Đông phương học và Việt Nam học. Từ năm 1988 cho đến nay, GS. Phan Huy Lê liên tục là Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ông còn giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt hay là uỷ viên của nhiều Hội đồng Quốc gia như Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng Học hàm Nhà nước, Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia&#8230; Ở cương vị nào ông cũng đều có những đóng góp xuất sắc.</p>
<p>Ông được phong học hàm Giáo sư (1980), Nhà giáo Ưu tú (1988), Nhà giáo Nhân dân (1994); được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), hạng Nhì (1994), hạng Ba (1974); được tặng Giải thưởng Nhà nước (2000), Giải thưởng Quốc tế Văn hoá châu Á Fukuoka, Nhật Bản (1996), Huân chương Cành cọ Hàn lâm của chính phủ Pháp (2002), Công dân ưu tú của Thủ đô (2010), danh hiệu Viện sĩ Thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn thuộc Học viện Pháp quốc (2011).</p>
<p>Và cao hơn tất cả, tên tuổi, tài năng và nhân cách của ông đã trở thành thần tượng, thành huyền thoại, thành niềm kiêu hãnh và tấm gương sáng cho các thế hệ học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế.</p>
<table border="1" cellspacing="1" cellpadding="5">
<tbody>
<tr>
<td><strong>GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN PHAN HUY LÊ</strong></p>
<ul>
<li>Năm sinh: 1934.</li>
<li>Quê quán: Hà Tĩnh.</li>
<li>Tốt nghiệp đại học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1956.</li>
<li>Chuyên ngành đào tạo: Lịch sử Việt Nam cổ trung đại.</li>
<li>Được công nhận chức danh Giáo sư năm 1980.</li>
<li>Được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1988.</li>
<li>Được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1994.</li>
<li>Được tặng danh hiệu Viện sĩ Thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn thuộc Học viện Pháp quốc năm 2011.</li>
<li>Giải thưởng Quốc tế Văn hóa Á châu Kukuoka, Nhật Bản (1996).</li>
<li>Huân chương Cành cọ Hàn lâm của Chính phủ Pháp (2002).</li>
<li>Thời gian công tác tại Trường: 1956 &#8211; 2004.</li>
</ul>
<p>+ Đơn vị công tác:</p>
<p>Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại, Khoa Lịch sử.</p>
<p>Khoa Đông phương học.</p>
<p>+ Chức vụ quản lý:</p>
<p>Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Cổ trung đại đại, Khoa Lịch sử.</p>
<p>Chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Đông phương học (1993-2000).</p>
<p>Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1988-nay).</p>
<ul>
<li>Các hướng nghiên cứu chính: Lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm, Lịch sử và lịch sử văn hóa Việt Nam, Lịch sử kinh tế &#8211; xã hội Việt Nam.</li>
<li>Các công trình và giải thưởng khoa học tiêu biểu (trong số hơn 400 công trình):</li>
</ul>
<p><strong><em>Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ</em></strong>, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959.</p>
<p><strong><em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em></strong>, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960; in lần thứ hai, 1962.</p>
<p><strong><em>Tìm hiểu thêm về phong trào nông dân Tây Sơn</em></strong>, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1961.</p>
<p><strong><em>Khởi nghĩa Lam Sơn</em></strong> (đồng tác giả), in lần thứ ba, có bổ sung và sửa chữa, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977; in lần thứ tư, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2005.</p>
<p><strong><em>Lịch sử Việt Nam</em> </strong>(đồng tác giả), tập I, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983; tái bản 1985, 1991.</p>
<p><strong><em>Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam</em></strong>, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1990.</p>
<p><strong><em>Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay</em></strong> (Chủ biên), tập II, Hà Nội, 1996; tập III, Hà Nội, 1997.</p>
<p><strong><em>Tìm về cội nguồn</em></strong>, tập I, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1998; in lần thứ hai, 1999; tập II, 1999.</p>
<p><strong><em>The country life in the Red River delta</em></strong> (Co-author), The gioi Publisher, Hanoi, 1999</p>
<p><strong><em>Vietnam</em><em>, Art et Culture de la préhistoire à nos jour</em>s</strong> (đồng tác giả), Nxb. Snoeck, Bruxelles-Vienne, 2003.</p>
<p><strong><em>Địa bạ cổ Hà Nội</em> </strong>(Chủ biên), tập I, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2005, in lần thứ hai, 2010; tập II, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2008, in lần thứ hai, 2010.</p>
<p><strong><em>Lịch sử và Văn hóa Việt Nam, Tiếp cận bộ phận</em></strong>, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007; in lần thứ hai, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2012.</p>
<p><strong><em>Lịch sử Thăng Long &#8211; Hà Nội</em></strong> (Chủ biên), 2 tập, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2012.</p>
<p><strong><em>Lịch sử Việt Nam</em> </strong>(Chủ biên), tập I+II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2012</p>
<p><strong><em>Lịch sử Quân sự Việt Nam</em></strong> (Chủ biên), tập V, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.</p>
<ul>
<li>Giải thưởng khoa học tiêu biểu:</li>
</ul>
<p>+ Giải thưởng Nhà nước và khoa học và công nghệ năm 2000 cho công trình <em><strong>Tìm về cội nguồn </strong>(</em>2 tập<em>)</em>.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Prof. Dr. Pham Hong Tung</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/en/prof-dr-pham-hong-tung/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 May 2025 17:53:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Scientist]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=10296</guid>

					<description><![CDATA[GS. TS Phạm Hồng Tung luôn tự hào được học tập và trưởng thành từ Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&#038;NV - một trong những cái nôi của nền sử học Việt Nam hiện đại, nơi ông có may mắn được nhiều bậc thầy tài năng và đức độ thương yêu dìu dắt, dạy bảo tận tình, được nhiều đồng nghiệp và bạn bè hết lòng giúp đỡ. Nhờ được sự định hướng của các thầy và của Khoa Lịch sử, ông đã miệt mài theo đuổi những hoài bão gắn liền với những hướng nghiên cứu cơ bản của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, như lịch sử các phong trào yêu nước và cách mạng của quần chúng nhân dân ở Việt Nam thời cận đại, Cách mạng tháng Tám năm 1945, một số vấn đề về lịch sử chính trị và văn hóa chính trị Việt Nam cận - hiện đại, các yếu tố và khía cạnh quốc tế của cuộc vận động phi thực dân hóa ở Việt Nam vv.. Ở hướng nghiên cứu nào, GS.TS Phạm Hồng Tung cũng có những đóng góp rất riêng, góp thêm những thông tin sử liệu, những cái nhìn, hướng tiếp cận và cách luận giải mới mẻ và sắc sảo.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><div class="clearfix">
<div class="hometext m-bottom"></div>
<figure class="article center"><img decoding="async" class="img-thumbnail" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ts-pham-hong-tung.jpg" alt="GS.TS Phạm Hồng Tung: Tự hào được trưởng thành từ Khoa Lịch sử" width="500" /><figcaption>GS.TS Phạm Hồng Tung: Tự hào được trưởng thành từ Khoa Lịch sử</figcaption></figure>
</div>
<div id="news-bodyhtml" class="bodytext margin-bottom-lg">
<p>GS.TS Phạm Hồng Tung là một trong không nhiều nhà khoa học được nhận chức danh giáo sư và để lại dấu ấn riêng trong nền sử học đương đại Việt Nam khi tuổi đời còn trẻ. Sau khi tốt nghiệp Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) ông may mắn được nhà trường tuyển làm cán bộ giảng dạy, sau đó được Trường cử đi học tập, nghiên cứu gần 10 năm liên tục tại CHLB Đức &#8211; một trong những quốc gia có nền giáo dục và khoa học cơ bản tiên tiến nhất ở châu Âu. Ông hoàn thành chương trình thạc sĩ loại ưu (<em>mit Auszeichnung</em>) năm 1997 tại Trường Đại học Tổng hợp Passau và chương trình đào tạo tiến sĩ loại xuất sắc (<em>magna cum laude) </em>tại Trường Đại học Tổng hợp Humboldt năm 2002. Trở về nước với hành trang là vốn kiến thức chuyên sâu, liên ngành về lịch sử và văn hóa Việt Nam, cùng với cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, ông tiếp tục được các bậc thầy khả kính dìu dắt, được Khoa Lịch sử và Trường ĐHKHXH&amp;NV tạo điều kiện để nhanh chóng hòa mình vào sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học với nhiều đóng góp quan trọng.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ts-pham-hong-tung-1.jpg" alt="" /></p>
<p><em>Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Tung/Ảnh: Thành Long</em></p>
<p>Trên lĩnh vực đào tạo, GS.TS Phạm Hồng Tung đã và đang tham gia giảng dạy nhiều môn học/chuyên đề cho các cơ sở đào tạo thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, như môn Lịch sử Việt Nam cận đại<em>, </em>chuyên đề Lịch sử cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, chuyên đề Các xu hướng tư tưởng chính trị trong lịch sử cận đại Việt Nam cho sinh viên ngành Lịch sử Việt Nam; môn Văn hóa chính trị Việt Nam, chuyên đề Lịch sử chính trị Việt Nam cho sinh viên và học viên sau đại học ngành Chính trị học; các chuyên đề Không gian văn hóa châu thổ sông Hồng, Những vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu khu vực học, Việt Nam học ở Việt Nam và trên thế giới cho học viên và nghiên cứu sinh của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển. Ngoài ra, GS.TS Phạm Hồng Tung còn tham gia giảng dạy bằng tiếng Anh và tiếng Đức cho sinh viên và học viên, nghiên cứu sinh nước ngoài thuộc các chương trình đào tạo quốc tế như chương trình CIEE (Council of International Education Exchange) chương trình EAP (Education Abroad Program), các chương trình hợp tác với Đại học Tổng hợp Princeton và Đại học Tổng hợp Connecticut của Mỹ. Năm 2007, ông được Đại học Tổng hợp Freiburg (CHLB Đức), một trong những trường đại học nổi tiếng nhất ở châu Âu mời làm giáo sư thỉnh giảng. Ông cũng được Đại học Quốc gia Hà Nội phân công thực hiện một số bài giảng online cho Đại học Tổng hợp Tokyo (Nhật Bản) và Đại học Quốc gia Seoul v.v…; GS.TS Phạm Hồng Tung đã và đang tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh và học viên cao học, biên soạn giáo trình, bài giảng. Ông được biết đến như một thầy giáo có nền tảng kiến thức chuyên môn sâu rộng, cập nhật, phong cách sư phạm lôi cuốn, nghiêm khắc với bản thân và với học trò, nhưng cũng đầy trẻ trung, hài hước và cá tính. Có lẽ những ai là học trò của GS.TS Phạm Hồng Tung đều cảm nhận được rằng: thầy không chỉ mang lại cho mình kiến thức, mà quan trọng hơn là dạy cách tư duy, nhất là tư duy phê phán khoa học, truyền cho họ niềm đam mê và lòng dũng cảm khám phá những vấn đề “gai góc” của lịch sử.</p>
<p>GS. TS Phạm Hồng Tung luôn tự hào được học tập và trưởng thành từ Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&amp;NV &#8211; một trong những cái nôi của nền sử học Việt Nam hiện đại, nơi ông có may mắn được nhiều bậc thầy tài năng và đức độ thương yêu dìu dắt, dạy bảo tận tình, được nhiều đồng nghiệp và bạn bè hết lòng giúp đỡ. Nhờ được sự định hướng của các thầy và của Khoa Lịch sử, ông đã miệt mài theo đuổi những hoài bão gắn liền với những hướng nghiên cứu cơ bản của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, như lịch sử các phong trào yêu nước và cách mạng của quần chúng nhân dân ở Việt Nam thời cận đại, Cách mạng tháng Tám năm 1945, một số vấn đề về lịch sử chính trị và văn hóa chính trị Việt Nam cận &#8211; hiện đại, các yếu tố và khía cạnh quốc tế của cuộc vận động phi thực dân hóa ở Việt Nam vv&#8230;  Đây là những nội dung cơ bản, quan trọng của lịch sử Việt Nam cận &#8211; hiện đại đồng thời cũng là địa hạt diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi nhất của giới nghiên cứu. Ở hướng nghiên cứu nào, GS.TS Phạm Hồng Tung cũng có những đóng góp rất riêng, góp thêm những thông tin sử liệu, những cái nhìn, hướng tiếp cận và cách luận giải mới mẻ và sắc sảo.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ts-pham-hong-tung-2.jpg" alt="" /></p>
<p><em>Thầy là Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQGHN/Ảnh: Thành Long</em></p>
<p>Trong thực tiễn nghiên cứu của mình, GS. Phạm Hồng Tung luôn chú trọng tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của sử học, đó là sự nghiêm cẩn trong phê phán sử liệu, trung thực, khách quan, toàn diện và cụ thể. Ông thường chia sẻ với đồng nghiệp và học trò nguyên tắc đảm bảo tính đa chiều trong tiếp cận và luận giải các sự kiện, nhân vật và quá trình lịch sử. Với ông, bản thân sử học đã là một khoa học liên ngành, và vì vậy, việc phối hợp vận dụng nhiều hệ thống phương pháp và cách tiếp cận của sử học và các khoa học chuyên ngành khác như xã hội học, nhân học, văn hóa học, kinh tế học, triết học, khoa học chính trị, khu vực học vv&#8230; trong nghiên cứu được ông rất quan tâm. Ông cũng rất coi trọng sự hợp tác và đối thoại trong nghiên cứu lịch sử. Ông tham gia nhiều nhóm nghiên cứu ở cả Việt Nam và nước ngoài để hoàn thành các chương trình nghiên cứu liên ngành về lịch sử, văn hóa và xã hội của Việt Nam và của khu vực Đông Nam Á và Đông Á. Với tinh thần khoa học thực sự cầu thị và nghiêm túc, GS.TS Phạm Hồng Tung tham gia nhiều hội thảo, hội nghị và các diễn đàn khoa học ở cả trong và ngoài nước, nơi ông luôn sẵn sàng chia sẻ ý kiến, quan điểm, phương pháp, đóng góp thông tin tư liệu và cũng không ngần ngại tranh luận quyết liệt với đồng nghiệp để cùng làm sáng tỏ hơn những tồn nghi học thuật.</p>
<p>Bên cạnh công tác giảng dạy và nghiên cứu, trong những năm gần đây GS. Phạm Hồng Tung còn tham gia công tác quản lý, lãnh đạo, chủ yếu là công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở ĐHQGHN. Do vậy mà hoạt động quản lý vẫn luôn gắn chặt với hoạt động chuyên môn, tạo điều kiện cho ông có dịp tiếp xúc, làm việc với đội ngũ đông đảo các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Thông qua đó, ông càng có dịp học hỏi thêm, mở rộng tầm nhìn và hiểu biết của mình.</p>
<p>Mặc dù đã đạt được một số thành tựu nổi bật trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận &#8211; hiện đại, GS. Phạm Hồng Tung vẫn chia sẻ, rằng đó mới chỉ là những kết quả bước đầu; rằng công việc và mục tiêu ông vươn tới vẫn còn đang ở phía trước. Hy vọng với hoài bão, tài năng và sự miệt mài vốn có của mình, ông tiếp tục có những đóng góp có giá trị to lớn hơn nữa cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của nước nhà.</p>
<table border="1" cellspacing="1" cellpadding="5">
<tbody>
<tr>
<td><strong>GIÁO SƯ, TIẾN SĨ PHẠM HỒNG TUNG</strong></p>
<ul>
<li>Năm sinh: 1963.</li>
<li>Quê quán: Hải Dương.</li>
<li>Tốt nghiệp đại học ngành Lịch sử tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1985.</li>
<li>Nhận bằng Tiến sĩ ngành Đông Nam Á học tại Đại học Tổng hợp Humboldt (CHLB Đức) năm 2002.</li>
<li>Nhận chức danh Phó Giáo sư năm 2006.</li>
<li>Nhận chức danh Giáo sư năm 2014.</li>
<li>Công tác tại trường: 1986 đến nay.
<ul>
<li>Đơn vị công tác:</li>
</ul>
</li>
</ul>
<p>Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ giảng dạy Lý luận Mác-Lênin (1986-1990).</p>
<p>Khoa Lịch sử Trường ĐHKHXH&amp;NV (1990-2003).</p>
<p>Phòng Khoa học (2003-2004).</p>
<ul>
<li>Chức vụ quản lý:</li>
</ul>
<p>Trưởng phòng Khoa học của Trường Đại học KHXH&amp;NV (2003-2004).</p>
<p>Phó Trưởng ban, Trưởng ban Khoa học &amp; Công nghệ, ĐHQGHN (2004-2012).</p>
<p>Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQGHN (2012 đến nay).</p>
<ul>
<li>Các hướng nghiên cứu chính: Lịch sử các phong trào yêu nước và cách mạng của quần chúng nhân dân ở Việt Nam thời cận đại; Lịch sử cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945; một số vấn đề và khía cạnh quốc tế của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại; Lịch sử chính trị và văn hóa chính trị Việt Nam.</li>
<li>Các công trình khoa học tiêu biểu:</li>
</ul>
<p>1. <em><strong>Die Politisierung der Massen in Vietnam, 1925-1939</strong>, </em>Logos Verlag, Berlin, 2002.</p>
<p>2. <em><strong>Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ ở Việt Nam</strong> (1936-1939), </em>NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.</p>
<p>3. <strong><em>Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị, </em></strong>NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.</p>
<p>4. <em><strong>Nội các Trần Trọng Kim: Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử</strong>, </em>NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.</p>
<p>5. <em><strong>Lịch sử cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam</strong>, </em>NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013.</p>
<ul>
<li>Các giải thưởng khoa học tiêu biểu:
<ul>
<li>Giải thưởng công trình KH&amp;CN tiêu biểu của ĐHQGHN năm 2010 cho công trình<em> <strong>Nội các Trần Trọng Kim: Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử.</strong></em></li>
</ul>
</li>
</ul>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Prof. Dr. Vu Minh Giang</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/en/prof-dr-vu-minh-giang/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 May 2025 17:51:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Scientist]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=10289</guid>

					<description><![CDATA[Nhắc đến ông là nhắc đến một trong những nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành về lịch sử và một số chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Thực tế hơn 40 năm công tác và phục vụ cho sự nghiệp chung, nhất là trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đã khẳng định vai trò và năng lực của GS.TSKH Vũ Minh Giang cả trong đào tạo, trong nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn. Nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội - GS. Vũ Minh Giang đã có nhiều công trình nghiên cứu mang lại những giá trị rất thiết thực và căn bản, thể hiện rõ nét tư duy mạch lạc, khách quan, cẩn trọng và toàn diện của một nhà khoa học, một nhà giáo đầy trách nhiệm và tâm huyết.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p><b>GS.TSKH Vũ Minh Giang: tận hiến với đời, tận tâm với quê hương</b></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Nhắc đến ông là nhắc đến một trong những nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành về lịch sử và một số chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Thực tế hơn 40 năm công tác và phục vụ cho sự nghiệp chung, nhất là trong sự nghiệp giáo dục &#8211; đào tạo, đã khẳng định vai trò và năng lực của GS.TSKH Vũ Minh Giang cả trong đào tạo, trong nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn. Nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội &#8211; GS. Vũ Minh Giang đã có nhiều công trình nghiên cứu mang lại những giá trị rất thiết thực và căn bản, thể hiện rõ nét tư duy mạch lạc, khách quan, cẩn trọng và toàn diện của một nhà khoa học, một nhà giáo đầy trách nhiệm và tâm huyết.</span></i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-weight: 400;">GS.TSKH Vũ Minh Giang có khá nhiều lĩnh vực nghiên cứu đạt tới độ chuyên sâu. Trong đó, khoa học lịch sử là lĩnh vực hoạt động chính của ông, vốn rất đa dạng và không kém phần phức tạp, nên người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử rất cần đảm bảo tính logic của vấn đề, mối liên quan ngang &#8211; dọc, trước &#8211; sau của thực tiễn. Vì vậy, ông đã dành tâm huyết và trí tuệ của mình để nghiên cứu không phải một mà là nhiều vấn đề khác nhau, mà theo ông vấn đề nào cũng cần thiết cả.</span></p>
<p><b>Những tận hiến cho sự nghiệp</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Nếu không kể 2 năm nhập ngũ trực tiếp cầm súng chiến đấu tại mặt trận phía Nam (sau khi đã học năm thứ tư Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội), thì ông Vũ Minh Giang phải mất 16 năm liền “đèn sách” từ bậc đại học lên để có được học vị TSKH (bảo vệ Luận án tại Đại học Tổng hợp Lômôlôxôp thuộc Liên Xô cũ). Và điều quan trọng nữa là niềm say mê, là ý chí vươn lên để không ngừng bồi tụ cho mình có được những kiến thức sâu rộng.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở vào thời điểm quyết liệt. Đang học năm thứ tư Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông lên đường nhập ngũ và trực tiếp cầm súng chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Năm 1974, theo sự điều động ông được chuyển ra Bắc, trở lại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và được phân công làm cán bộ giảng dạy của trường, bắt đầu sự nghiệp mới: dạy học và nghiên cứu khoa học. Tuy có một thời gian gián đoạn do phục vụ trong quân đội, nhưng bù lại, GS. Vũ Minh Giang đã có được những trải nghiệm thực tế quý báu ngay nơi chiến trường ác liệt của cuộc kháng chiến. Đối với một người nghiên cứu và giảng dạy môn lịch sử, thực tiễn đó càng hữu ích hơn.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Được xếp vào lớp cán bộ “nguồn” vừa có năng lực, vừa có thực tiễn, năm 1980, ông được cử đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô, tại Trường Đại học Tổng hợp Lômôlôxôp – một trong những trường đại học lớn nhất và danh tiếng nhất thế giới thời kỳ đó. Với chuyên ngành Lịch sử kinh tế, ông đã thể hiện là một nghiên cứu sinh giàu tiềm năng, được các giáo sư của trường quý mến và đánh giá cao. Năm 1985, ông bảo vệ xuất sắc Luận án Phó Tiến sĩ, ngay năm sau (1986) ông lại bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ khoa học. Đó là một kết quả không mấy người đạt được trong một thời gian ngắn. Mặc dù vậy, trong suy nghĩ của GS. Vũ Minh Giang, thực sự được cống hiến tri thức của mình cho sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước mới là khát vọng lớn lao và cháy bỏng nhất của ông. Về nước giữa những năm đầu của công cuộc đổi mới, rất nhiều khó khăn phải đối mặt. Song, GS. Vũ Minh Giang vẫn tin ở tương lai phát triển của đất nước trên nền tảng của sự đổi mới. Bằng những nỗ lực không mệt mỏi của mình, ông đã được giao đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau trong và ngoài trường đại học, từ Chủ nhiệm Bộ môn, đến Phó Chủ nhiệm, rồi Chủ nhiệm Khoa và Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông là Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam từ năm 1991 đến 2003. Hiện GS.TSKH Vũ Minh Giang là Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQG Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại. Ở cương vị nào, ông cũng thể hiện tâm huyết và trình độ cao của một nhà nghiên cứu chuyên sâu.</span></p>
<ol>
<li><span style="font-weight: 400;"> Vũ Minh Giang là một nhà khoa học có ý thức rất rõ về vai trò “đi trước một bước” trong nghiên cứu, nhằm có được những cơ sở khoa học đầy đủ, vững chắc để giải quyết và minh chứng các vấn đề thực tế yêu cầu. Không chờ cho đến khi đủ điềuk iện và các yếu tố liên quan, ngay từ năm 1998, ông đã cùng các đồng nghiệp nghiên cứu để tổ chức 4 Hội thảo quốc tế về Việt Nam học với vai trò là Trưởng ban Tổ chức. Đây có thể coi là tiền đề cho sự ra đời của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển sau này. Thực tiễn phát triển của Viện trong hơn chục năm qua đã minh chứng về vai trò cần có của Viện đóng góp vào tiến trình phát triển chung, cả trong hoạt động nghiên cứu và trong công tác đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học với những vấn đề liên ngành về Việt Nam.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-weight: 400;">Là một nhà giáo, đồng thời là một nhà sử học, GS. Vũ Minh Giang đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa giảng dạy và nghiên cứu. Hai hoạt động ấy tương hỗ cho nhau, tạo nên hiệu quả cao hơn trong công việc. Ông là tác giả và đồng tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách chuyên khảo và sách giáo trình phục vụ giảng dạy. Trong đó có những công trình được đánh giá rất cao do tác dụng và giá trị thiết thực trong thực tiễn như: Tiến trình lịch sử Việt Nam (NXB Giáo dục), Giáo trình lịch sử Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia), Lịch sử Vùng đất Nam Bộ (Chủ biên – NXB Thế giới), Lịch sử Việt Nam – Truyền thống và hiện đại (Tác giả &#8211; NXB Giáo dục), Những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong tình hình hiện nay (NXB Chính trị Quốc gia)… Cùng với đó là hàng trăm bài báo chuyên đề của ông đã được đăng trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước, được các nhà chuyên môn đánh giá cao. Nhiều hội thảo khoa học quan trọng về lịch sử, về giáo dục, về Việt Nam học mà ông trực tiếp là Trưởng Ban tổ chức, là Trưởng Ban thư ký. Những công trình lịch sử của ông được đánh giá cao và giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề cần được minh chứng. Cuốn Lịch sử vùng đất Nam bộ là một trong những công trình như vậy.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trong công tác giáo dục – đào tạo, nhà giáo Vũ Minh Giang đã dành rất nhiều tâm huyết và thời gian cho công việc. Ông coi đó là sự nghiệp, là hạnh phúc và cũng là trách nhiệm đối với thế hệ trẻ. “Với tôi, người thầy, nghề giáo nói chung có hai điều thiêng liêng nhất phải có, đó là tâm huyết với nghiệp làm thầy làm cô của mình và phải quan tâm tới chuyện mình là thế nào trong mắt các học trò” &#8211; Giáo sư Giang chia sẻ &#8211; “Nếu ai cũng tâm niệm điềm đó, chắc chắn ngành giáo dục sẽ thay đổi nhiều. Các thầy cô đều hiểu học trò của mình cần cái gì, đôi khi họ hiểu học trò của mình hơn cả những nhà quản lý của ngành. Nếu có tâm huyết, họ sẽ có những hiến kế, đề xuất hay cho ngành. Còn nếu quan tâm tới hình ảnh của mình trong mắt học trò, họ sẽ biết tự sửa mình để làm thầy cho đáng làm thầy”. Không chỉ giảng dạy ở trong nước, GS. Giang còn giảng ở nhiều trường đại học nước ngoài như ở Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp. Tại đây, ông được nhận nhiều giải thưởng cho quý như Huân chương Cành cọ Hàn lâm của Chính phủ Pháp… Tâm huyết của nhà giáo Vũ Minh Giang với nghề còn thể hiện ở sự trăn trở, ở những đóng góp cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong nhà trường. Ông là người khởi xướng và chỉ đạo công tác đổi mới tuyển sinh theo đề riêng của ĐHQGHN từ nhiều năm trước. Ngay đối với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay, Giáo sư Vũ Minh Giang cũng đưa ra những ý kiến, quan điểm rõ ràng, cụ thể và gắn với thực tiễn, với xu hướng phát triển của thời đại.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Năm 2010, trước thềm Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, một trong những hoạt động học thuật lớn nhất, duy nhất và thiết thực nhất trong Đề án được Thủ tướng phê duyệt là Hội thảo quốc tế Hà Nội học với chủ đề: Thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng bền vững trong bối cảnh biến đổi toàn cầu. ĐHQGHN được tin tưởng giao nhiệm vụ là cơ quan thường trực tổ chức Hội thảo. Và, GS.TSKH Vũ Minh Giang đảm nhiệm vai trò Trưởng ban tổ chức Hội thảo ý nghĩa này.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trong những năm gần đây, khi vấn đề biển Đông và cuộc đấu tranh và chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đòi hỏi ngày càng cao sự góp sức của các nhà sử học, GS.TSKH Vũ Minh Giang đã lao vào sự nghiệp này với những bài viết và hoạt động có tính chiến đấu cao. Đặc biệt là công trình Cơ sở học về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, được giới chuyên môn trong và ngoài nước đánh giá cao.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hiện nay, với tư cách là Phó Chủ nhiệm đề án cấp Nhà nước, GS.TSKH Vũ Minh giang cùng với GS. Phan Huy Lê và nhiều nhà sử học đầu ngành đang tập trung công sức cho việc xây dựng một công trình Lịch sử Việt Nam có tầm cỡ với dung lượng lên tới 25 tập thông sử và 5 tập biên niên. Đây sẽ là bộ lịch sử dân tộc lớn nhất từ trước tới nay…</span></p>
<p><b>Tận tâm với quê hương và cộng đồng</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">GS.TSKH Vũ Minh Giang sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng. Bố ông quê ở xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên và mẹ ông quê ở xã Đông Phương, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Nhưng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, cả hai ông bà đều lên chiến khu tham gia các hoạt động kháng chiến, gặp nhau và nên duyên vợ chồng ở đó. Năm 1951, cậu bé Vũ Minh Giang chào đời ngay tại chiến khu khi cuộc kháng chiến còn hết sức cam go, cuộc sống thiếu thốn mọi bề nhưng  với ông, Hải Phòng là quê hương gốc,   ông thường xuyên theo sát những bước phát triển của thành phố Cảng, vui niềm vui của quê, trăn trở cùng những khó khăn của quê hương</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Dù làm gì, ở đâu, ông cũng sẵn sàng đem tâm huyết và trí tuệ của mình đóng góp cho quê hương bằng những công việc cụ thể. Gần đây nhất, năm 2014, khi Hải Phòng được giao tổ chức Lễ khai mạc năm du lịch, GS.TSKH Vũ Minh Giang được mời tham gia đóng góp xây dựng kịch bản chương trình. Ông đã đưa ra ý tưởng tổ chức làm nổi bật những nét đẹp truyền thông của nền văn minh lúa nước, được Ban Tổ chức đồng tình. Nhiều vấn đề được cho là phức tạp về học thuật, thành phố đều mời GS. Giang tham gia ý kiến và ông đã có những tiếng nói tích cực, những minh chứng có tính thuyết phục cao. Ông còn tham gia trong Ban biên soạn Bộ lịch sử thành phố Hải Phòng với vai trò là một cảng biển từ hàng trăm năm về trước; đóng góp ý kiến và Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV…</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Với quê hương là thế &#8211; ông vẫn luôn tận tâm, vẫn luôn sống có nghĩa có tình. Bởi “quê hương mỗi người chỉ một” và ông cũng không thể là ngoại lệ.</span></p>
<p><b><i>Bài viết của Xuân Phúc, đăng trên Web Trường ĐH KHXH&amp;NV</i></b></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Prof. Dr. Nguyen Quang Ngoc</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/en/prof-dr-nguyen-quang-ngoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 May 2025 17:48:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Scientist]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=10283</guid>

					<description><![CDATA[Hơn 50 năm gắn bó với Hà Nội, công bố gần 100 công trình khoa học có tính thực tiễn, hơn 50 đề tài nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng thành công ngành Hà Nội học,… nhưng với GS.TS. NGND Nguyễn Quang Ngọc, bấy nhiêu đó “vẫn chưa đủ để trả món nợ ân tình cho mảnh đất Thủ đô”.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p><b>GS.TS. NGND Nguyễn Quang Ngọc: Nửa thế kỷ nặng lòng với Hà Nội</b></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;">Hơn 50 năm gắn bó với Hà Nội, công bố gần 100 công trình khoa học có tính thực tiễn, hơn 50 đề tài nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng thành công ngành Hà Nội học,… nhưng với GS.TS. NGND Nguyễn Quang Ngọc, bấy nhiêu đó “vẫn chưa đủ để trả món nợ ân tình cho mảnh đất Thủ đô”.</span></i></p>
<p><b>Bài học đầu tiên về Hà Nội</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Những ngày cuối năm, tôi có dịp tới thăm GS.TS. NGND Nguyễn Quang Ngọc, nguyên Giám đốc Trung tâm Hà Nội học và Phát triển Thủ đô. Căn phòng của ông đầy ắp sách, nằm khiêm tốn trong dãy nhà cũ của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, nơi ông đã gắn bó nửa thế kỷ với công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Ở tuổi 70, khi những người bạn cao niên đồng học ngơi nghỉ thì vị giáo sư vẫn ngày ngày lên lớp giảng bài cho sinh viên và dành hết tâm huyết cho những công trình khoa học với các phát hiện mới về lịch sử Hà Nội.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Mở đầu câu chuyện, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc kể với tôi về việc quy hoạch đô thị Hà Nội, đến những phát hiện thú vị về mảnh đất Cổ Loa. Ông nói, Đông Anh là vùng đất hội tụ cao nhất các yếu tố, điều kiện văn hóa, lịch sử để trở thành đô thị văn minh, hiện đại theo đúng xu thế phát triển trên thế giới. Đáng chú ý, khu vực Đầm Vân Trì nối giữa Cầu Nhật Tân và Cổ Loa, có địa mạo, địa chất đặc biệt bởi nơi đây từng là lòng sông cổ, có tuổi đời trên 1 vạn năm, đủ điều kiện để xây dựng đô thị hiện đại.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">“Cấu trúc thành Cổ Loa rất đặc biệt với hệ thống hào nước, hệ thủy liên quan đến dòng sông Hồng, đời sống kinh tế, văn hóa của người Việt, thuộc loại hàng đầu trên thế giới. Khi làm tổng chủ biên cuốn Dư địa chí Đông Anh, tôi từng đề xuất: phải khôi phục lại toàn bộ hệ thủy của Cổ Loa. Nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ có một hình dung đầy đủ về kinh đô đầu tiên thời đại dựng nước của dân tộc. Điều này có ý nghĩa to lớn, phát huy được giá trị lịch sử của Công viên lịch sử văn hóa Cổ Loa” – GS Nguyễn Quang Ngọc say sưa kể.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Có lẽ, những ai biết đến GS Nguyễn Quang Ngọc đều hiểu vì sao ông lại đam mê nghiên cứu về lịch sử Hà Nội đến vậy. Đặc biệt, với Cổ Loa, ông có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Hơn 50 trước, sau khi tốt nghiệp phổ thông hệ 10 năm tại Hải Phòng, vốn mê Toán từ nhỏ nhưng định mệnh lại dẫn dắt cậu học trò Nguyễn Quang Ngọc đến với môn Sử. “Khi tôi vào học khoa Sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, bài học đầu tiên là Nhập môn Khảo cổ học của thầy Trần Quốc Vượng. Tôi còn nhớ như in phong cách giảng bài cuốn hút đến kỳ lạ của thầy và cuối buổi, thầy khẽ nhắc học trò: “Bây giờ ăn cơm Hà Nội, uống nước Hà Nội, thì nhớ trả nợ nguồn cho Hà Nội. Tôi yêu môn Sử và gắn bó với Hà Nội ngay từ bài học đầu tiên này” – vị giáo sư trầm ngâm kể.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Thế rồi, trong những chuyến thực tập khảo cổ học ở Cổ Loa, ở Dục Tú (Đông Anh – Hà Nội), được tự mình phát hiện, đào lên chiếc rìu đá, những mảnh gốm nằm sâu trong lòng đất, chàng sinh viên ấy đã mường tượng ra hình ảnh cuộc sống của người Hà Nội từ mấy nghìn năm trước.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">“Đó là địa bàn của thời đại dựng nước đầu tiên, nơi mở đầu và là trung tâm của các cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, nơi “lắng hồn núi sông nghìn năm”, hội tụ và lan tỏa các giá trị tinh túy của đất nước và con người Việt Nam. Những bài giảng của thày cô “khai tâm” cho chúng tôi về tiến trình lịch sử đất nước phần nhiều lại tập trung vào địa bàn Hà Nội.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Các chuyến đi điền dã của chúng tôi về thời đại dựng nước đầu tiên, về nước Âu Lạc, thành Cổ Loa, An Dương Vương, đến Lý Thái Tổ định đô Thăng Long và các triều đại Lý, Trần, Lê… đều được triển khai tại Hà Nội nên tình yêu với mảnh đất này cứ lớn dần lên và tự nhiên như hơi thở vậy” – vị giáo sư trầm ngâm kể lại.</span></p>
<p><b>Những công trình nghiên cứu đặc sắc về Thăng Long – Hà Nội</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Dành trọn đam mê cho khoa học, GS Nguyễn Quang Ngọc cho rằng, nghiên cứu lịch sử phải có sử liệu làm căn cứ, nên vô cùng coi trọng công việc thực địa, bởi theo ông, chỉ khi đến địa bàn nghiên cứu, khảo sát tường tận thì viết một công trình Sử học mới “thật” được. Trong ký ức của nhiều học trò và đồng nghiệp là hình ảnh vị giáo sư già nghiêm khắc, nhưng tận tình, đồng hành cùng họ trong những chuyến “đổ quân” về Đông Anh, đến Hoàng Thành Thăng Long để khảo sát và kết quả cuối cùng luôn các hội thảo khoa học hoành tráng, là những cuốn sách dày cộm, đầy ắp kiến thức khoa học và tính thực tiễn cao.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hiện giáo sư Nguyễn Quang Ngọc là chủ biên hàng chục bộ sách, chủ trì hàng chục hội thảo lớn về lịch sử Thăng Long &#8211; Hà Nội. Phải kể đến đó là cuốn Định Đô thăng Long -Tầm nhìn thiên niên kỷ ra mắt năm 2020 nhân kỷ niệm 1010 năm Lý Thái Tổ định đô Thăng Long; cuốn Không gian khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long: Tư liệu và nhận thức (2016); Chủ biên Bách khoa thư Hà Nội (phần mở rộng 2017)&#8230;</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Những cuốn sách ấy không chỉ làm sáng tỏ một phần lịch sử của Hà Nội mà còn là cách để ông trả nghĩa cho mảnh đất này sau một nửa thập kỷ gắn bó và trưởng thành ở đây.</span></p>
<p><b>Gọi tên ngành “Hà Nội học”</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Đau đáu với lời dạy của các thày như GS Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, nên giáo sư Nguyễn Quang Ngọc luôn ấp ủ ý tưởng hình thành ngành Hà Nội học để xứng tầm với giá trị văn hóa, lịch sử của Thủ đô. Năm 2004, khi là Viện trưởng Việt Nam học và Khoa học Phát triển, được tạo điều kiện, ông bắt đầu tổ chức các đề tài có tính liên ngành và tổng kết một số lĩnh vực về Hà Nội.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Năm 2010, Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình” nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội đã đi đến quyết định xây dựng một ngành Hà Nội học liên ngành gắn với Khu vực học và Khoa học phát triển. Ngay sau đó, ông và cộng sự thực hiện hàng loạt các chương trình khoa học cấp nhà nước KX.09, Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến, Chương trình Bách khoa thư Hà Nội… cùng nhiều dự án cấp thành phố, cấp cơ sở nghiên cứu về Thủ đô. Đây cũng là cơ sở cho sự ra đời ngành Hà Nội học liên ngành.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Tháng 12/2011, ông và cộng sự tổ chức thành công hội thảo “Hà Nội học – Phương pháp tiếp cận và nội dung nghiên cứu”. Dựa trên kết quả này, Trung tâm Hà Nội học và phát triển Thủ đô được thành lập, trở thành địa chỉ tin cậy của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và giảng dạy về Hà Nội học trong nước và quốc tế.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Chia sẻ về ngành học này, GS Nguyễn Quang Ngọc cho biết, ông và cộng sự đã xây dựng được cơ sở lý luận và phương pháp luận cho ngành Hà Nội học liên ngành, biên soạn và xuất bản được Giáo trình Hà Nội học; tranh thủ sự hợp tác của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội, Hội Sử học Hà Nội… xây dựng cơ sử dữ liệu và tủ sách Hà Nội học.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Sau khi ra đời, ngành Hà Nội học đã được đưa vào giảng dạy tại một số trường Đại học và phổ thông. GS Nguyễn Quang Ngọc cho rằng, Hà Nội đã đi trước các địa phương khác, chủ động xây dựng môn Hà Nội học, phù hợp với yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Vị giáo sư cũng tin tưởng, dẫu còn khó khăn, nhưng chắc chắn ngành Hà Nội học sẽ tiếp tục được hoàn thiện, đi vào ứng dụng thực tiễn, góp phần vào chiến lược phát triển toàn diện và bền vững của Thủ đô.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Tiễn tôi ra về, GS Nguyễn Quang Ngọc nói, ông vừa nhận quyết định nghỉ hưu nhưng chắc chắn “chưa hết nợ với Hà Nội”, nên sự nghiệp nghiên cứu khoa học và cống hiến cho Thủ đô vẫn chưa dừng lại. Là người trực tiếp tham gia xây dựng hồ sơ khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long thành Di sản Văn hóa thế giới, ông vẫn đau đáu, nặng trĩu một nỗi, phải cùng các nhà khoa học khác, làm sao nhanh chóng giúp Hà Nội khôi phục hoàn toàn được Điện Kính Thiên và không gian Điện Kính Thiên. “Bởi nếu không làm được điều này, chúng ta sẽ có lỗi với tiền nhân và hậu thế” – vị giáo sư trăn trở.</span></p>
<p><b>Bài viết của Thái Sơn, Báo Tuổi trẻ và Pháp luậ</b><span style="font-weight: 400;">t.</span></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
