<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nhà Khoa Học &#8211; HỘI THẢO VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ 7</title>
	<atom:link href="https://icvns2025.vnu.edu.vn/nha-khoa-hoc/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn</link>
	<description>Hội nhập và Phát triển</description>
	<lastBuildDate>Fri, 14 Nov 2025 03:05:44 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	

<image>
	<url>https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/cropped-icvns2025-vnu-edu-vn-2-32x32.png</url>
	<title>Nhà Khoa Học &#8211; HỘI THẢO VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ 7</title>
	<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Giáo sư – Tiến sĩ Vladimir N. Kolotov</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/giao-su-tien-si-vladimir-n-kolotov/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 11 Aug 2025 02:51:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=12535</guid>

					<description><![CDATA[Giáo sư – Tiến sĩ Vladimir Nikolaevich Kolotov là một trong những học giả Nga tiêu biểu trong lĩnh vực Việt Nam học và nghiên cứu khu vực Đông Á – Đông Nam Á đương đại. Ông sinh ngày 14/01/1969, tại Leningrad (Liên Xô, nay là Saint Petersburg, Nga), tốt nghiệp Khoa Đông phương học, Đại học Quốc gia Saint Petersburg (SPbU) năm 1994. Năm 1998, ông bảo vệ luận án tiến sĩ (kandidat) với đề tài “Tôn giáo và chính trị trong lịch sử Nam Việt Nam giai đoạn 1945–1963”; đến năm 2006, bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “Yếu tố tôn giáo trong các xung đột cục bộ có kiểm soát: Nam Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa và chiến tranh Đông Dương (từ quý II thế kỷ XVII đến quý III thế kỷ XX)”. Từ năm 2004, ông được phong hàm Phó giáo sư và hiện giữ học hàm Giáo sư.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p dir="ltr" style="text-align: center;"><em><strong>Giáo sư – Tiến sĩ Vladimir N. Kolotov: Nhà Việt Nam học hàng đầu của Nga</strong></em></p>
<p dir="ltr" style="text-align: justify;">Giáo sư – Tiến sĩ Vladimir Nikolaevich Kolotov là một trong những học giả Nga tiêu biểu trong lĩnh vực Việt Nam học và nghiên cứu khu vực Đông Á – Đông Nam Á đương đại. Ông sinh ngày 14/01/1969, tại Leningrad (Liên Xô, nay là Saint Petersburg, Nga), tốt nghiệp Khoa Đông phương học, Đại học Quốc gia Saint Petersburg (SPbU) năm 1994. Năm 1998, ông bảo vệ luận án tiến sĩ (kandidat) với đề tài “Tôn giáo và chính trị trong lịch sử Nam Việt Nam giai đoạn 1945–1963”; đến năm 2006, bảo vệ luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “Yếu tố tôn giáo trong các xung đột cục bộ có kiểm soát: Nam Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa và chiến tranh Đông Dương (từ quý II thế kỷ XVII đến quý III thế kỷ XX)”. Từ năm 2004, ông được phong hàm Phó giáo sư và hiện giữ học hàm Giáo sư.</p>
<p dir="ltr" style="text-align: justify;">Hiện nay, GS. Kolotov là Trưởng Bộ môn Lịch sử các nước Viễn Đông, Giám đốc Viện Hồ Chí Minh thuộc SPbU. Bên cạnh công tác giảng dạy và nghiên cứu, ông còn đảm nhiệm nhiều vai trò tư vấn và tham vấn chính sách: chuyên gia của Hội đồng Nga về các vấn đề quốc tế (RSMD), thành viên Ủy ban Quốc gia Nga của Hội đồng hợp tác an ninh châu Á – Thái Bình Dương (RNK ATSSB), thành viên Nhóm công tác về phòng chống cực đoan tôn giáo trong khuôn khổ Hội đồng điều phối chống khủng bố thuộc Phòng Công cộng Liên bang Nga.</p>
<p dir="ltr" style="text-align: justify;">Lĩnh vực nghiên cứu của ông trải rộng, từ “vành đai bất ổn Á–Âu” và các vấn đề an ninh khu vực, chiến tranh thông tin, mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, các công nghệ tâm lý, phòng chống cực đoan và khủng bố, lịch sử – văn hóa Việt Nam, địa – chính trị Đông Á, cho tới quản lý xung đột và chính sách nội – ngoại giao của Việt Nam, ASEAN. Ông thông thạo nhiều ngoại ngữ, gồm tiếng Nga, Việt, Trung, Anh và Pháp.</p>
<p dir="ltr" style="text-align: justify;">GS. Kolotov đã công bố hơn 140 công trình, gồm 5 chuyên khảo và giáo trình, khoảng 100 bài báo khoa học. Các ấn phẩm nổi bật tập trung vào nghiên cứu lịch sử Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, chiến thắng Điện Biên Phủ, yếu tố tôn giáo trong xung đột Nam Việt Nam, và lý thuyết – thực tiễn “vành đai bất ổn Á–Âu”. Ngoài xuất bản bằng tiếng Nga, ông còn có nhiều công trình bằng tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Trung, tạo ảnh hưởng rộng rãi trong giới nghiên cứu quốc tế.</p>
<p dir="ltr" style="text-align: justify;">Trong giảng dạy, ông phụ trách nhiều học phần chuyên sâu về lịch sử, văn hóa, chính trị và an ninh khu vực, như Lịch sử và quốc học Việt Nam, Văn hóa – dân tộc học Việt Nam, ASEAN và tình hình Đông Nam Á, Hệ thống an ninh khu vực Đông Á, Các giáo phái tôn giáo ở Nam Việt Nam, Chế độ thuộc địa Pháp tại Việt Nam, hay Sử học và nguồn sử Việt Nam.</p>
<p dir="ltr" style="text-align: justify;">Bằng nền tảng học thuật vững chắc, kinh nghiệm nghiên cứu thực địa và mạng lưới hợp tác quốc tế, GS. Vladimir Kolotov đã trở thành một trong những cầu nối quan trọng giữa học giới Nga và Việt Nam, đóng góp đáng kể vào việc phát triển Việt Nam học ở Nga cũng như thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa hai quốc gia.</p>
<p dir="ltr" style="text-align: right;"><em>Tác giả: TS. Lý Viết Trường</em></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kikuchi Seiichi</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/kikuchi-seiichi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 04 Aug 2025 16:00:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=12444</guid>

					<description><![CDATA[Kikuchi Seiichi: Nhà khảo cổ học Nhật Bản gắn bó sâu sắc với Việt Nam Giáo sư Kikuchi Seiichi sinh năm 1954 tại tỉnh Gunma, Nhật Bản. Ông đến Việt Nam lần đầu năm 1979 và bị cuốn hút bởi chiều sâu văn hóa – lịch sử của đất nước này. Từ năm 1993, ông...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p style="text-align: center;"><strong> Kikuchi Seiichi: Nhà khảo cổ học Nhật Bản gắn bó sâu sắc với Việt Nam</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Giáo sư Kikuchi Seiichi sinh năm 1954 tại tỉnh Gunma, Nhật Bản. Ông đến Việt Nam lần đầu năm 1979 và bị cuốn hút bởi chiều sâu văn hóa – lịch sử của đất nước này. Từ năm 1993, ông sang Việt Nam học tiếng Việt, đồng thời trực tiếp tham gia các cuộc khảo sát và khai quật tại nhiều di tích. Ông nhanh chóng thiết lập mối quan hệ học thuật mật thiết với giới khảo cổ – sử học Việt Nam, trong đó có các giáo sư uy tín như Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Diệp Đình Hoa&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Một trong những trọng tâm nghiên cứu của GS Kikuchi là đô thị cổ Hội An. Sau Hội thảo quốc tế về Hội An năm 1990, ông cùng các đồng nghiệp Nhật – Việt tiến hành các cuộc khai quật và nghiên cứu toàn diện về đô thị này trong bối cảnh thương cảng Đàng Trong và khu vực Đông Nam Á. Những kết quả khảo cổ kết hợp nghiên cứu kiến trúc – lịch sử đã góp phần quan trọng vào việc UNESCO công nhận Hội An là Di sản Văn hóa Thế giới. Từ đó, ông trở thành gương mặt quen thuộc với cộng đồng cư dân Hội An, nơi ông thường xuyên thực địa và sinh sống trong thời gian dài.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài Hội An, GS Kikuchi cũng dành sự quan tâm đến các thương cảng miền Trung, khảo sát các trung tâm thương mại ven biển, cửa sông, và đặc biệt là vết tích của gốm Hizen Nhật Bản tại Bảo Lộc (Lâm Đồng). Ông đưa ra nhiều nhận định đáng chú ý về lịch sử xuất khẩu gốm Hizen và các tuyến giao thương Nhật Bản – châu Á thế kỷ XVII.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong suốt hơn ba thập kỷ, ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là chuyên khảo song ngữ “Lịch sử đô thị cổ Hội An”. Các nghiên cứu của ông còn mở rộng tới các làng cổ như Đường Lâm (Sơn Tây), Phước Tích (Huế), thành nhà Hồ… – góp phần vào hồ sơ công nhận di sản văn hóa quốc gia và quốc tế.</p>
<p style="text-align: justify;">Tình yêu sâu đậm với văn hóa Việt Nam, sự miệt mài nghiên cứu và thái độ cầu thị đã khiến GS. Kikuchi Seiichi trở thành một trong những học giả nước ngoài tiêu biểu, có nhiều đóng góp bền bỉ và thực chất cho khảo cổ học Việt Nam.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Tác giả: TS. Lý Viết Trường</em></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS. Takao Yao</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-takao-yao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 29 Jul 2025 15:42:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=12439</guid>

					<description><![CDATA[Takao Yao: Học giả Nhật Bản chuyên nghiên cứu lịch sử Việt Nam Giáo sư Takao Yao là một nhà sử học Nhật Bản có nhiều đóng góp quan trọng trong nghiên cứu Việt Nam trung đại, đặc biệt là thời kỳ Lê sơ. Ông hiện là giáo sư tại Đại học Hiroshima, trực thuộc...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p style="text-align: center;"><b> Takao Yao: Học giả Nhật Bản chuyên nghiên cứu lịch sử Việt Nam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Takao Yao là một nhà sử học Nhật Bản có nhiều đóng góp quan trọng trong nghiên cứu Việt Nam trung đại, đặc biệt là thời kỳ Lê sơ. Ông hiện là giáo sư tại Đại học Hiroshima, trực thuộc Khoa Nghiên cứu Văn hóa và Khu vực học. Với chuyên môn sâu về lịch sử chính trị – pháp lý, ông tập trung vào các chủ đề như hệ thống pháp luật triều Lê, chế độ lưu đày, trung tâm quyền lực và nhóm cộng đồng Thanh Hóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong hơn hai thập kỷ qua, GS Yao đã chủ trì và tham gia nhiều đề tài nghiên cứu lớn do Quỹ Khoa học Nhật Bản (JSPS) tài trợ, tiêu biểu như:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; Thực trạng tiếp nhận luật pháp Minh – Thanh trong thời kỳ nhà Lê ở Việt Nam (2018–2020),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ góc độ vùng núi (2012–2015),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; Chính quyền nhà Mạc dưới góc độ tư liệu mới và tái thẩm định tư liệu cũ (2009–2011),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; Cấu trúc không gian của các trung tâm quyền lực Việt Nam trung đại và cận đại (2008–2010).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Bên cạnh hàng chục bài báo học thuật, ông còn là tác giả các công trình tiêu biểu như:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; National Code of the Le Dynasty, Dai Viet (2020), (chuyên khảo về pháp luật thời Lê sơ);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; Vietnamese Politics and Society in the Early Le Period (2009), (tập trung vào cơ cấu quyền lực và xã hội thời Lê);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ông cũng từng tham gia báo cáo khoa học tại các hội thảo quốc tế lớn như Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 5 (2016), với các tham luận chuyên sâu về niên đại và đặc điểm biên soạn pháp điển triều Lê.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">GS Takao Yao là thành viên tích cực của nhiều hội học thuật, như Hội Nghiên cứu Lịch sử và Địa lý Trung – Tứ Quốc, Hội Nghiên cứu Đông Nam Á Nhật Bản, và Hội Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam tại Nhật. Với nền tảng Hán học vững vàng và khả năng tiếp cận tư liệu gốc, ông là một trong những học giả Nhật Bản có ảnh hưởng sâu rộng trong lĩnh vực Việt Nam học, góp phần quan trọng trong việc kết nối giới nghiên cứu Nhật Bản với các nhà sử học Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: right;"><em>Tác giả: TS. Lý Viết Trường</em></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS. Shaun Kingsley Malarney</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-shaun-kingsley-malarney/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 24 Jul 2025 15:03:58 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=12436</guid>

					<description><![CDATA[Shaun Kingsley Malarney: Chuyên gia nghiên cứu văn hóa cách mạng và nghi lễ tại Việt Nam Giáo sư Shaun K. Malarney hiện giảng dạy tại Khoa Xã hội, Văn hóa và Truyền thông thuộc Khoa Nghiên cứu Quốc tế, Trường Đại học Cơ Đốc giáo Quốc tế (International Christian University, Tokyo). Ông là nhà...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p style="text-align: center;"><b> Shaun Kingsley Malarney: Chuyên gia nghiên cứu văn hóa cách mạng và nghi lễ tại Việt Nam</b></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Shaun K. Malarney hiện giảng dạy tại Khoa Xã hội, Văn hóa và Truyền thông thuộc Khoa Nghiên cứu Quốc tế, Trường Đại học Cơ Đốc giáo Quốc tế (International Christian University, Tokyo). Ông là nhà nhân học người Mỹ, có nhiều công trình uy tín về Việt Nam hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa cách mạng, nghi lễ và y học thuộc địa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">GS Malarney được biết đến rộng rãi qua công trình Culture, Ritual and Revolution in Vietnam (Văn hóa, nghi lễ và cách mạng ở Việt Nam, xuất bản năm 2002), trong đó ông phân tích sâu sắc sự biến đổi văn hóa – tôn giáo trong thời kỳ hậu chiến và vai trò của nhà nước trong việc định hình các thực hành nghi lễ mới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ngoài các bài báo và chương sách học thuật, GS Malarney còn góp phần đưa văn học Việt Nam ra thế giới thông qua bản dịch tiếng Anh tác phẩm Lục Xì – thiên phóng sự nổi tiếng năm 1937 của nhà văn Vũ Trọng Phụng, viết về nạn mại dâm và bệnh hoa liễu ở Hà Nội thời Pháp thuộc. Đây là một nỗ lực đáng ghi nhận trong việc giới thiệu các nguồn tư liệu xã hội học Việt Nam đến độc giả quốc tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với cách tiếp cận nhân học sâu sắc, nhạy bén trước các vấn đề văn hóa – chính trị, GS Shaun K. Malarney là một trong những học giả phương Tây có đóng góp quan trọng cho sự hiểu biết quốc tế về xã hội Việt Nam hiện đại và quá trình chuyển biến văn hóa trong bối cảnh lịch sử đặc thù của đất nước.</span></p>
<p style="text-align: right;"><em>Tác giả: TS. Lý Viết Trường</em></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS.TS Yoshiharu Tsuboi</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-ts-yoshiharu-tsuboi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 17 Jul 2025 14:40:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=12426</guid>

					<description><![CDATA[GS.TS Yoshiharu Tsuboi: Nhà sử học Nhật Bản và hành trình hơn nửa thế kỷ nghiên cứu Việt Nam GS.TS Yoshiharu Tsuboi là một trong những học giả tiên phong trong nghiên cứu lịch sử – chính trị Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1948, nguyên là giảng viên Luật khoa tại Đại học...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p><b>GS.TS Yoshiharu Tsuboi: Nhà sử học Nhật Bản và hành trình hơn nửa thế kỷ nghiên cứu Việt Nam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">GS.TS Yoshiharu Tsuboi là một trong những học giả tiên phong trong nghiên cứu lịch sử – chính trị Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1948, nguyên là giảng viên Luật khoa tại Đại học Tokyo và hiện là Giáo sư Lịch sử chính trị – xã hội Đông Nam Á tại Đại học Waseda, Tokyo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">GS Yoshiharu Tsuboi bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam từ năm 1973, trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt nhất. Thay vì tiếp cận qua các nguồn tin báo chí hay tư liệu phương Tây, ông tìm đến sử liệu chính thống và những công trình Hán – Nôm để hiểu sâu sắc lịch sử chính trị Việt Nam từ bên trong. Thành quả quan trọng đầu tiên là luận án tiến sĩ đệ tam cấp bảo vệ tại Đại học Paris năm 1982, sau này được xuất bản thành sách dưới nhan đề nổi tiếng: “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa”, một công trình phân tích chính trị – ngoại giao sắc sảo giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong các phát biểu công khai, GS Yoshiharu Tsuboi luôn nhấn mạnh sự cần thiết của việc đọc lại lịch sử Việt Nam với cái nhìn cẩn trọng, tránh thiên kiến chính trị hay định kiến hậu thuộc địa. Trong một bài trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong, ông từng chia sẻ: “Người Việt cần đọc kỹ lại lịch sử của chính mình trong toàn cảnh Đông Á và thế giới, với tâm thế tự chủ và không nóng vội”. Đây không chỉ là khuyến nghị học thuật, mà còn là lời nhắn gửi đầy thiện chí từ một người bạn tri thức lâu năm của Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với hơn năm mươi năm dõi theo tiến trình lịch sử – chính trị Việt Nam, GS Yoshiharu Tsuboi đã trở thành cầu nối học thuật vững chắc giữa Việt Nam và Nhật Bản. Công trình, tư tưởng và tinh thần của ông tiếp tục truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ học giả trẻ trên con đường nghiên cứu khu vực học và Việt Nam học hiện đại.</p>
<p></span></p>
<p style="text-align: right;"><em>Tác giả: TS. Lý Viết Trường</em></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS.TS Kurihara Hirohide</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-ts-kurihara-hirohide/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 30 Jun 2025 14:53:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=12433</guid>

					<description><![CDATA[GS.TS Kurihara Hirohide: Chuyên gia Nhật Bản nghiên cứu về quan hệ ngoại giao của Việt Nam Giáo sư Kurihara Hirohide là chuyên gia hàng đầu về quan hệ ngoại giao của Việt Nam, hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hóa Á – Phi, Đại học Ngoại ngữ Tokyo (Tokyo...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p style="text-align: center;"><b>GS.TS Kurihara Hirohide: Chuyên gia Nhật Bản nghiên cứu về quan hệ ngoại giao của Việt Nam</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Kurihara Hirohide là chuyên gia hàng đầu về quan hệ ngoại giao của Việt Nam, hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hóa Á – Phi, Đại học Ngoại ngữ Tokyo (Tokyo University of Foreign Studies). Ông có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, chính trị và ngoại giao khu vực Đông Á từ góc nhìn lịch sử và văn hóa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Trong hơn hai thập niên qua, GS Kurihara đã chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu lớn tại Nhật Bản, tiêu biểu như:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; “Vietnam &#8211; China Comradeship: Its Historical Change and Prospect for the Future” (Tình đồng chí Việt – Trung: Biến đổi lịch sử và triển vọng tương lai, 2018–2023),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; “Many Aspects of Chinese Presence in Modern Vietnam” (Nhiều khía cạnh hiện diện của Trung Quốc trong Việt Nam hiện đại, 2017–2021),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; “Vietnam-China Relations: Cooperation and/or Conflicts in the Boundary and their Influence upon State-to-State Relationship” (Quan hệ Việt – Trung: Hợp tác và/hoặc xung đột ở khu vực biên giới và tác động đến quan hệ giữa hai nhà nước, 2015–2018),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; “Studies on the Formation of China-Vietnam Cooperation between the Neighboring Areas” (Nghiên cứu về quá trình hình thành hợp tác giữa các khu vực giáp ranh Việt – Trung, 2012–2015),</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8211; “Studies on the Location of Vietnam in China-ASEAN Regional Cooperation Projects” (Nghiên cứu vị trí của Việt Nam trong các dự án hợp tác khu vực Trung Quốc – ASEAN, 2008–2011).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Các nghiên cứu này góp phần làm rõ cách Việt Nam ứng xử với Trung Quốc trong các bối cảnh địa chính trị cụ thể, từ biên giới, hợp tác khu vực cho đến quan hệ đồng chí – đồng minh trong thời kỳ hiện đại. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với kiến thức vững vàng về khu vực học và mối quan tâm lâu dài đối với Việt Nam, GS Kurihara Hirohide là một trong những học giả Nhật Bản có đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy hiểu biết và đối thoại học thuật giữa Nhật Bản và Việt Nam về các vấn đề chính trị – văn hóa khu vực.</span></p>
<p style="text-align: right;"><em>Tác giả: TS. Lý Viết Trường</em></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS. Momoki Shiro</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-momoki-shiro/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 May 2025 07:32:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=11287</guid>

					<description><![CDATA[GS. TS Momoki Shiro  (sinh năm 1955) là một trong những nhà nghiên cứu Việt Nam học hàng đầu.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p><b>GS.TS Momoki Shiro (Đại học Việt &#8211; Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội): “Tôi vẫn giữ các số báo Hànội mới những năm 1980”</b></p>
<p style="text-align: justify;">
<p><i><span style="font-weight: 400;">Giáo sư, Tiến sĩ (GS.TS) Momoki Shiro (sinh năm 1955) là Giáo sư Lịch sử Đại học Quốc gia Osaka (Nhật Bản), hiện là chuyên gia JICA làm việc tại Chương trình Khu vực học, Đại học Việt &#8211; Nhật (Đại học Quốc gia Hà Nội).</span></i></p>
<p style="text-align: justify;">
<p><span style="font-weight: 400;">Thuộc thế hệ thứ 3 của các nhà Việt Nam học người Nhật, GS.TS Momoki Shiro đến Việt Nam ngay từ những năm bắt đầu đổi mới (1986). Và Hànộimới cùng Nhân Dân là những tờ báo đầu tiên ông đã đọc hằng ngày để cập nhật tin tức, học tiếng Việt.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hơn 30 năm nghiên cứu, sống ở Việt Nam, ông nói: “Ở Osaka, tôi vẫn giữ những tờ báo và bài báo Hànộimới những năm 1980 về lịch sử, văn hóa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p><b>Đọc báo &#8211; Cách thu nạp thông tin hữu hiệu</b></p>
<p style="text-align: justify;">
<p><span style="font-weight: 400;">Các sinh viên, học viên, giảng viên Trường Đại học Việt &#8211; Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội, lâu nay đã quen thuộc với hình ảnh vị giáo sư Nhật Bản của chương trình Khu vực học thường xuyên ăn sáng, ăn trưa ở các quán ăn văn phòng, sinh viên. Ông ưa thích những món bình dị của ẩm thực Việt như xôi, bún chả, cơm rang, bánh mì&#8230; và đôi khi “ra đề” cho các học trò trên Facebook một cách thú vị: “Hãy nghĩ ra đề tài nghiên cứu khu vực học liên quan đến các đồ uống này”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Có lớp sinh viên trẻ trung, nghịch ngợm gọi ông trìu mến là “Thầy Đào” dịch từ tên “Momoki” (cây đào theo tiếng Nhật) trong tên ông &#8211; Momoki Shiro. Và, cũng từ cái tên Việt Nam “Đào Chí Lãng” mà ông tự đặt để bày tỏ tình cảm với Việt Nam.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Từ khi còn là một học sinh trung học, tiếp nhận tin tức về chiến tranh Việt Nam qua truyền hình, Momoki Shiro đã mong muốn nghiên cứu về Việt Nam. Năm 1986, ông sang Việt Nam học tiếng Việt và nghiên cứu, đến nay hơn 30 năm đi về giữa Việt Nam và Nhật Bản, ông được xem là nhà sử học, nhà Việt Nam học có nhiều đóng góp cho Việt Nam, cho Hà Nội.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Momoki Shiro cho thấy điều quan trọng với một nhà nghiên cứu nước ngoài khi sống ở Việt Nam là khả năng hòa nhập như một nhà dân tộc học vào đời sống bản địa. Ông thích đi du lịch một mình và “3 cùng” với người dân nơi ông tới.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông nói vui mà cũng là chắt lọc từ hành trình quan sát, nghiên cứu của mình, rằng “Bánh mì Việt Nam cũng là một thành tựu của đổi mới”. Hay như cách ông dặn dò sinh viên: “Giấy giới thiệu của trường đại học không có tác dụng gì đâu, muốn phỏng vấn các cụ ở làng thì phải ngồi xuống và uống chén rượu”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Cũng như vậy, một trong những cách để thu nạp tin tức và hiểu đất nước con người bản địa là đọc báo. Giáo sư Momoki chia sẻ: “Từ tháng 10-1986, khi sang Việt Nam tôi đã đọc Báo Hànộimới và Nhân Dân. Sau này thói quen hằng ngày của tôi cũng là uống cà phê và đọc báo mỗi sáng. Ở nhà riêng của tôi tại Osaka, tôi vẫn giữ những tờ báo và bài báo Hànộimới, ví như tờ báo có sự kiện Đại hội Đảng, các bài báo về văn hóa thú vị. Hiện nay, không thể phủ nhận lợi ích to lớn của internet, nhưng tôi vẫn thích đọc báo giấy”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Momoki Shiro cũng nhắc đến hình ảnh những sạp bán báo tại Hà Nội mà nay không còn nữa, và cả những thách thức mà báo chí đang phải đối diện.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông cũng cho biết: “Những năm 1980, các tờ báo lớn Nhật Bản ở vào thời kỳ đỉnh cao. Có báo phát hành cả bản buổi sáng như Asahi Shimbun, Mainichi Shimbun. Thời phát xít Nhật, các tờ báo chỉ có 4 trang, sau đó dần dần lên 8 trang, 12 trang, rồi 16 trang, 20 trang, nhiều nhất là tờ chủ nhật lên tới hơn 30 trang. Những năm 1970 &#8211; 1980, bình quân bản buổi sáng 24 trang, buổi chiều 12 trang. Tuy nhiên, báo giấy gần đây giảm tờ buổi chiều và giảm cả số trang”.</span></p>
<p><i><span style="font-weight: 400;"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-11755 aligncenter" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-300x175.jpg" alt="GS. Momoki Shiro" width="300" height="175" srcset="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-300x175.jpg 300w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-1024x597.jpg 1024w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-768x447.jpg 768w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24-600x350.jpg 600w, https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/icvns2025-vnu-edu-vn-24.jpg 1186w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></span></i></p>
<p style="text-align: center;"><i><span style="font-weight: 400;">Giáo sư Momoki Shiro (ngoài cùng bên trái) đến Việt Nam từ những năm bắt đầu đổi mới đất nước (1986).</span></i></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Mặc dù vậy, Giáo sư Momoki Shiro cũng khẳng định, nhiều giáo viên trung học Nhật Bản vẫn hướng dẫn học sinh đọc báo bên cạnh việc học sách giáo khoa. Khoa sử Trường Đại học Quốc gia Osaka yêu cầu sinh viên đọc báo, sách giấy đối với hoạt động nghiên cứu khoa học.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông dẫn ra một câu chuyện thú vị, việc đọc tài liệu sách báo giấy với giới nghiên cứu còn giúp phân biệt tài liệu thật &#8211; giả, thông qua xác định niên đại tài liệu từ chất liệu giấy, cách thức in ấn… Tại Trường Đại học Việt &#8211; Nhật, hình ảnh của GS.TS Momoki Shiro xuất hiện trên giảng đường luôn gắn với một chồng sách tham khảo.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Phạm Hà Trang, sinh viên ngành Nhật Bản học, lớp BJS2020 (Trường Đại học Việt &#8211; Nhật) bày tỏ: “Giáo sư Momoki luôn khuyến khích sinh viên tham khảo tài liệu, sách báo để mở mang kiến thức, hướng tới việc “tự học suốt đời”. Bên cạnh việc giới thiệu tới sinh viên những tác phẩm hay, thầy luôn sẵn sàng mở thêm những lớp học bổ sung ngay cả khi môn học đã kết thúc”.</span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p><b>“Mong Hà Nội có thêm những mô hình phát huy bản sắc văn hóa”</b></p>
<p style="text-align: justify;">
<p><span style="font-weight: 400;">Là giáo sư về lịch sử châu Á và đặc biệt là lịch sử thời Lý, Trần của Việt Nam, GS.TS Momoki Shiro đã có mặt trong đoàn chuyên gia nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long và dự Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long &#8211; Hà Nội.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Ông từng dành tặng khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, hơn 700 cuốn sách nghiên cứu về Đông Á, Đông Nam Á, Việt Nam mà ông sưu tầm từ nhiều năm để tri ân nơi ông từng học tập, nơi có những nhà khoa học lớn mà ông khẳng định mình “chịu ảnh hưởng mạnh mẽ” như Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Trần Quốc Vượng, Giáo sư Hà Văn Tấn.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Hơn 30 năm nghiên cứu về Việt Nam, ông mang đến các công trình nghiên cứu với phương pháp tiếp cận mới của sử học toàn cầu. Một số đề tài tiêu biểu như thiết chế chính trị Việt Nam thời Lý, Trần; biến đổi xã hội Đại Việt thế kỷ XIV qua văn khắc &#8211; khảo sát trường hợp vùng Hà Tây; nghiên cứu lịch sử Chămpa và thương mại biển Đông Á &#8211; Đông Nam Á&#8230;</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Tri thức của ông là sự kết hợp của đọc và sống với đời sống hằng ngày một cách vừa cẩn trọng, nghiêm túc vừa gần gũi, thấu hiểu. Những chuyến điền dã nghiên cứu khu vực học có sự tham gia của GS.TS Momoki Shiro đầy ắp những kiến giải thú vị, bổ ích cho người làm khoa học.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Chia sẻ về Hà Nội, ông có những góc nhìn so sánh với cố đô Kyoto nghìn năm tuổi của Nhật Bản: “Hà Nội phát triển rất nhanh, tâm tính con người, xã hội cũng có nhiều thay đổi, có điểm giống và khác với Kyoto. Tôi hay nhớ lại kỷ niệm của mình khi ở Kyoto. Ở Kyoto, phải có 3 đời từng sống tại đây mới được chấp nhận là dân cố đô. Về cơ bản là dân Kyoto vẫn tự hào về nền nếp lâu đời của mình. Giới khoa học Nhật Bản cũng ghi nhận vai trò Kyoto trong lịch sử và văn hóa”.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">GS.TS Momoki Shiro cũng cho biết, thủ đô Tokyo thì phát triển kinh tế, cố đô Kyoto thì kêu gọi giữ gìn bản sắc văn hóa. Kyoto không có hiện tượng di dân mạnh, dân số gần như ổn định trong 50 năm qua, thành phố có những khu công nghiệp nhưng rất hạn chế. Tuy nhiên, Kyoto lại phải đối phó với vấn đề giao thông (tắc đường trên các đường phố cổ, hẹp và ô nhiễm không khí).</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Trong điều kiện như vậy, lịch sử phát triển Kyoto đã ghi nhận một số mô hình sản xuất và kinh doanh rất mới mẻ như triết lý kinh doanh của ông Inamori Kazuo (đã có sách dịch sang tiếng Việt), rồi là nhà máy Nintendo sản xuất đồ chơi điện tử nổi tiếng thế giới, thành lập năm 1889 tại Kyoto&#8230; Các mô hình này đặt mục tiêu mang lại hạnh phúc cho nhân viên trước hết và đều không ngừng tìm kiếm, sáng tạo sản phẩm cạnh tranh.</span></p>
<p><span style="font-weight: 400;">Qua những chia sẻ trên, ông bày tỏ hy vọng, Hà Nội sẽ đưa ra mô hình sáng tạo độc đáo để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa cũng như bề dày lịch sử của thành phố. Bởi đây chính là nền tảng để phát triển bền vững.</span></p>
<p><b>Theo Hải Miên, Báo Hà Nội mới.</b></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS.TS FURUTA MOTOO </title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-ts-furuta-motoo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[ICVNS 2025 Quản trị]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 May 2025 07:28:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=11284</guid>

					<description><![CDATA[GS.TS Furuta Motoo: Người thầy gieo hạt giống tri thức, kết nối hai dân tộc bằng trái tim &#8220;Việt Nam là mối tình đầu và cũng là mối tình thủy chung của tôi suốt nửa thế kỷ nay. Có thể nói rằng tôi là một nhà khoa học nước ngoài Made in Vietnam&#8221; – GS.TS...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><p style="text-align: justify;"><b>GS.TS Furuta Motoo: Người thầy gieo hạt giống tri thức, kết nối hai dân tộc bằng trái tim</b></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">&#8220;Việt Nam là mối tình đầu và cũng là mối tình thủy chung của tôi suốt nửa thế kỷ nay. Có thể nói rằng tôi là một nhà khoa học nước ngoài Made in Vietnam&#8221; – GS.TS Furuta Motoo, Hiệu trưởng Trường ĐH Việt Nhật, ĐHQGHN chia sẻ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Là nhà nghiên cứu Việt Nam học hàng đầu tại Nhật Bản, chuyên gia uy tín về lịch sử và chính trị Việt Nam, GS.TS Furuta không chỉ giảng dạy bằng kiến thức, mà còn bằng cả sự đồng hành, thấu hiểu và tình yêu với đất nước này. Ông sử dụng thành thạo tiếng Việt, dành cả sự nghiệp để nghiên cứu về Việt Nam. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">GS.TS Furuta Motoo từng là Hiệu trưởng Trường Đại cương, Đại học Tokyo (2001-2002); Nguyên Phó Giám đốc Đại học Tokyo (2004 &#8211; 2006); Nguyên Giám đốc Thư viện Đại học Tokyo (2009 &#8211; 2015). Và hiện là Hiệu trưởng Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Những đóng góp của ông đã được ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Giáo sư được Đại học Quốc gia Hà Nội trao bằng Tiến sĩ danh dự, Huy chương Hữu nghị (năm 1980); Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ (năm 2012); Huân chương Hữu nghị (năm 2013). </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Với cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Việt Nhật, ĐHQGHN di sản lớn nhất mà ông để lại không nằm ở những danh hiệu – mà ở tâm huyết xây dựng, phát triển trường, và hơn cả là tấm lòng dành cho sinh viên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Mới đây, khi được nhận Giải thưởng Bảo Sơn, Giáo sư Hiệu trưởng đã trích 1 tỷ đồng để đóng góp vào quỹ học bổng cho sinh viên VJU. Trước đó, ông vẫn âm thầm, bền bỉ đóng góp, đặc biệt là dành phần lớn các giải thưởng, nhuận bút viết sách để trao tặng học bổng cho sinh viên (tổng giá trị tích lũy gần 700 triệu đồng). </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Ở Trường ĐH Việt Nhật, trong hầu hết các đợt trao học bổng, cái tên học bổng Thầy Furuta luôn là một phần thưởng quý giá dành cho những sinh viên ưu tú, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc các hoạt động kết nối đào tạo, nghiên cứu của sinh viên, học viên với Nhật Bản. Ví dụ, năm 2020, ông dành 2 triệu yên từ Giải thưởng Daido Seimei – giải thưởng danh giá của Chính phủ Nhật Bản – để hỗ trợ các sinh viên khóa đầu tiên ngành Nhật Bản học. Bên cạnh đó, bằng uy tín và tình cảm của mình, GS. Furuta cũng kết nối và kêu gọi tài trợ thông qua các câu lạc bộ khoa học, các doanh nhân, trí thức Nhật Bản tài trợ cho sinh viên Trường ĐHVN, như quỹ Azabu (1.3 triệu JPY và 155 triệu đồng), Mr. Takehara (200tr đồng) và nhiều tổ chức khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Hàng năm, học bổng mang tên GS Furuta vẫn luôn tiếp tục được duy trì tại VJU, là nguồn động viên lớn lao và thiết thực cho những bạn sinh viên trên con đường theo đuổi tri thức </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-weight: 400;">Cảm ơn GS. Furuta Motoo – người đã dành trọn tâm huyết để trở thành “cầu nối tri thức” giữa hai nền văn hóa Việt – Nhật!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><b>Nguồn: FB của Đại học Quốc gia Hà Nội</b></p>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS.NGND Phan Huy Lê</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-ngnd-phan-huy-le/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 May 2025 17:53:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=10301</guid>

					<description><![CDATA[Giáo sư Phan Huy Lê sinh ngày 23/2/1934 tại làng Thu Hoạch, xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà (nay là huyện Lộc Hà), tỉnh Hà Tĩnh - một vùng quê văn hiến của xứ Nghệ, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, trọng tình nghĩa, cần cù và hiếu học. Cả hai dòng họ nội, ngoại của GS. Phan Huy Lê đều là những dòng họ khoa bảng nổi tiếng với những danh nhân văn hoá lớn như Phan Huy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy... Cụ thân sinh là Phan Huy Tùng, tiến sĩ Nho học, từng làm quan trong triều đình Huế, nổi tiếng thanh liêm, phúc đức, nhân hậu, hết mực yêu con, quý cháu.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><div class="clearfix">
<div class="hometext m-bottom"></div>
<figure class="article center"><img decoding="async" class="img-thumbnail" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ngnd-phan-huy-le.jpg" alt="GS.NGND Phan Huy Lê - chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam" width="500" /><figcaption>GS.NGND Phan Huy Lê &#8211; chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam</figcaption></figure>
</div>
<div id="news-bodyhtml" class="bodytext margin-bottom-lg">
<p><em>Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê &#8211; nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại, nguyên Chủ nhiệm đầu tiên Khoa Đông phương học, Trường ĐHKHXH&amp;NV</em></p>
<p>Năm 1952, khi 18 tuổi, Phan Huy Lê rời gia đình ra học Dự bị Đại học ở Thanh Hoá và tại đây ông có cơ hội được tiếp xúc với những trí thức cách mạng hàng đầu của đất nước. Vốn là học sinh có năng khiếu và ham mê khoa học tự nhiên, ông dự định chọn Toán &#8211; Lý cho tương lai nghề nghiệp của mình, nhưng dường như số phận đã định trước cho ông con đường trở thành nhà Sử học. GS. Trần Văn Giàu và GS. Đào Duy Anh là những người đầu tiên nhận ra những phẩm chất ở Phan Huy Lê và hướng ông vào học Ban Sử &#8211; Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.</p>
<p>Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành lập gồm 4 khoa: Toán &#8211; Lý, Hoá &#8211; Sinh, Văn và Sử. Phan Huy Lê vừa tốt nghiệp cử nhân Sử &#8211; Địa đã được nhận ngay vào Tổ Cổ sử thuộc Khoa Lịch sử dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của GS. Đào Duy Anh. Ngay từ khi đi học, ông đã được các thầy tin cậy giao làm trợ lý giảng dạy. Sau khi tốt nghiệp, ông vừa chính thức đứng lớp, vừa được các giáo sư Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh giao cho viết bài giảng và đảm nhiệm các công việc của những chuyên gia thực thụ. Có lẽ vì thế mà chỉ 2 năm sau, khi GS. Đào Duy Anh chuyển công tác về Viện Sử học, mới 24 tuổi đời, ông đã vững vàng trong trọng trách của một Chủ nhiệm bộ môn đứng mũi chịu sào tổ chức và xây dựng một ngành học giữ vị trí then chốt trong hệ thống các môn học về khoa học xã hội Việt Nam.</p>
<p>Dấn thân vào nghề Sử, Phan Huy Lê quan niệm kinh tế &#8211; xã hội là cơ sở nền tảng của toàn bộ lịch sử. Nước ta là một nước nông nghiệp nên nghiên cứu kinh tế &#8211; xã hội Việt Nam truyền thống không thể không bắt đầu từ nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Điều này giải thích vì sao những ấn phẩm đầu tiên trong sự nghiệp khoa học của ông là <em>Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ</em> (1959), <em>Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn</em> (1959), <em>Lao động và làm thuê trong xã hội phong kiến Việt Nam</em> (1959)… Tính ra có 5 công trình lớn trong giai đoạn 5 năm đầu bước vào nghề của ông thuộc về lĩnh vực kinh tế &#8211; xã hội.</p>
<p>Khi Phan Huy Lê vừa mới tạo lập được vị trí của mình trong nghiên cứu về kinh tế &#8211; xã hội thì cũng là lúc đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Tự ý thức trách nhiệm công dân phải tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc, Phan Huy Lê chuyển sang nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và những trận đánh lớn trong lịch sử. Những công trình <em>Khởi nghĩa Lam Sơn</em> (1965);<em> Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam</em> (1973), <em>Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc</em> (1976), <em>Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288</em> (1988)&#8230; được hoàn thành trong điều kiện như thế và đã trở thành những tác phẩm lịch sử quân sự tiêu biểu.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ngnd-phan-huy-le-2.jpg" alt="" /></p>
<p><em>GS.NGND Phan Huy Lê là chuyên gia đầu ngành về Lịch sử Việt Nam. Tên tuổi, tài năng và nhân cách của ông đã trở thành huyền thoại, thành niềm kiêu hãnh và tấm gương sáng cho các thế hệ học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế.</em></p>
<p>Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Phan Huy Lê tiếp tục dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài chống ngoại xâm. Trong khoảng 15 năm (1975-1989), ông viết đến trên 24 công trình lớn, chưa kể hàng chục bài báo và tham luận về đề tài này. Nói đến Phan Huy Lê người ta nghĩ ngay đến chuyên gia hàng đầu về lịch sử chống ngoại xâm với số lượng vượt trội các công trình nghiên cứu và với những tổng kết sâu sắc đã trực tiếp góp vào những chiến công chung của đất nước. Mảng đề tài này, ông có 50 trên tổng số 408 công trình đã hoàn thành (chiếm 12,2%).</p>
<p>Tuy nhiên, điều mà Phan Huy Lê trước sau đặc biệt quan tâm là những vấn đề về kinh tế &#8211; xã hội, hình thái kinh tế &#8211; xã hội và các thể chế chính trị &#8211; xã hội trong lịch sử Việt Nam trước Cận đại. Mỗi khi có cơ hội, ông lại tranh thủ trở về với đề tài chế độ ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, nông dân và làng xã cổ truyền. Số công trình ông viết riêng về mảng kinh tế &#8211; xã hội là 51 (chiếm 12,5%), trong đó tiêu biểu là các tác phẩm viết về phong trào nông dân Tây Sơn, các cuốn sách, chuyên đề về sự phát triển hình thái kinh tế &#8211; xã hội, kết cấu kinh tế &#8211; xã hội, làng xã của người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ… Ngoài ra, ông luôn tiên phong đi sâu khai thác những nguồn tư liệu liên quan như địa bạ, châu bản, gia phả&#8230; kết hợp với điều tra khảo sát thực địa.</p>
<p>Phan Huy Lê bắt đầu mở rộng sang nghiên cứu lĩnh vực văn hoá &#8211; truyền thống từ giữa những năm 1970 và sự quan tâm của ông đến lĩnh vực này càng ngày càng toàn diện với số lượng trung bình là 64 (chiếm 15,72%). Những công trình tiêu biểu là <em>Truyền thống và cách mạng</em> (1982), <em>Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam</em> (1988), <em>Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay </em>(3 tập, 1994, 1996, 1997), <em>Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại </em>(2002) và hệ thống các bài viết về di sản văn hoá của di sản Trung tâm Hoàng thành Thăng Long&#8230;</p>
<p>Có thể hình dung toàn bộ trước tác của GS. Phan Huy Lê được chia thành 7 lĩnh vực chủ yếu, với số công trình từ 41 đến 92 (trung bình 58) cho mỗi lĩnh vực. Nhưng trách nhiệm lớn nhất đặt ra cho GS. Phan Huy Lê không phải là từng mảng lịch sử cụ thể mà là tổng kết lịch sử đất nước. Ngay từ năm 1959, nghĩa là khi mới bắt tay viết những trang bản thảo đầu tiên, ông đã có một tập bài giảng <em>Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858</em>. Liên tiếp 2 năm sau, ông cho ra mắt <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em> tập II (1960) và <em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam </em>tập III (1961), góp phần làm nên tầm vóc của Khoa Lịch sử. Năm 1971, ông cùng Trần Quốc Vượng viết <em>Lịch sử Việt Nam</em> tập I, được coi là cuốn thông sử đầu tiên của chế độ mới. Trong thời gian này hàng loạt các bài giảng, giáo trình khác về <em>Lịch sử Việt Nam</em> ra đời (vào các năm 1966, 1970, 1978&#8230;) làm cơ sở cho sự xuất hiện <em>Lịch sử Việt Nam</em> tập I (1983) &#8211; một cuốn sách tổng kết lịch sử Việt Nam từ thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ thứ X tương đối đầy đủ và cập nhật. Đặc biệt gần đây, trong đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước xây dựng bộ sách <em>Lịch sử Việt Nam</em> 4 tập, GS. Phan Huy Lê vừa là chủ biên, vừa là tác giả chính của 2 tập I và II, được coi là tổng kết cao nhất về giai đoạn lịch sử từ nguồn gốc cho đến giữa thế kỷ XIX.</p>
<p>Không chỉ dồn tâm, dồn sức viết các bộ thông sử, các tập giáo trình, Phan Huy Lê còn là tác giả của nhiều công trình lịch sử địa phương. Trân trọng và đề cao kinh nghiệm viết sử truyền thống, ông lại chính là người đi tiên phong hiện đại hoá và cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới. Số lượng các công trình tổng kết lịch sử, những bài giảng, giáo trình và các bộ thông sử có tầm khái quát cao của ông vì thế lên đến 41 công trình (chiếm 10,0%), tạo nên sự hoàn hảo và trội vượt trong phẩm chất và tính cách sử học Phan Huy Lê.</p>
<p>Tầm uyên bác trong các công trình Sử học của GS. Phan Huy Lê bắt nguồn từ trách nhiệm cao cả của một người Thầy, vì theo ông, dạy đại học là dạy kết quả nghiên cứu của chính mình.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ngnd-phan-huy-le-3.jpg" alt="" /></p>
<p><em>GS.NGND Phan Huy Lê và GS.NGND Đinh Xuân Lâm &#8211; hai nhà Sử học nổi tiếng, niềm tự hào của Khoa Lịch sử, của Trường ĐHKHKXH&amp;NV.</em></p>
<p>Hơn nửa thế kỷ qua, ngoài việc giảng dạy chính ở Khoa Lịch sử, Ông còn dạy cho nhiều lớp ở trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội, các trường đại học trên thế giới, như Đại học Paris VII (Pháp), Đại học Amsterdam (Hà Lan)&#8230; Hàng nghìn học trò qua ông đào tạo, nhiều người đã thành đạt, đang giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy ở trung ương và địa phương, ở trong nước và nước ngoài. Ông cũng là một trong những chuyên gia đầu tiên của nền giáo dục mới Việt Nam tham gia giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn và phản biện nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế, trong đó có 17 học trò trực tiếp của ông đã bảo vệ thành công các luận án tiến sĩ, tiến sĩ khoa học.</p>
<p>Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo Sử học, ông còn được giao trách nhiệm xây dựng hai ngành học mới là Đông phương học và Việt Nam học. Từ năm 1988 cho đến nay, GS. Phan Huy Lê liên tục là Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ông còn giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt hay là uỷ viên của nhiều Hội đồng Quốc gia như Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng Học hàm Nhà nước, Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia&#8230; Ở cương vị nào ông cũng đều có những đóng góp xuất sắc.</p>
<p>Ông được phong học hàm Giáo sư (1980), Nhà giáo Ưu tú (1988), Nhà giáo Nhân dân (1994); được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), hạng Nhì (1994), hạng Ba (1974); được tặng Giải thưởng Nhà nước (2000), Giải thưởng Quốc tế Văn hoá châu Á Fukuoka, Nhật Bản (1996), Huân chương Cành cọ Hàn lâm của chính phủ Pháp (2002), Công dân ưu tú của Thủ đô (2010), danh hiệu Viện sĩ Thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn thuộc Học viện Pháp quốc (2011).</p>
<p>Và cao hơn tất cả, tên tuổi, tài năng và nhân cách của ông đã trở thành thần tượng, thành huyền thoại, thành niềm kiêu hãnh và tấm gương sáng cho các thế hệ học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế.</p>
<table border="1" cellspacing="1" cellpadding="5">
<tbody>
<tr>
<td><strong>GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN PHAN HUY LÊ</strong></p>
<ul>
<li>Năm sinh: 1934.</li>
<li>Quê quán: Hà Tĩnh.</li>
<li>Tốt nghiệp đại học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1956.</li>
<li>Chuyên ngành đào tạo: Lịch sử Việt Nam cổ trung đại.</li>
<li>Được công nhận chức danh Giáo sư năm 1980.</li>
<li>Được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1988.</li>
<li>Được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1994.</li>
<li>Được tặng danh hiệu Viện sĩ Thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn thuộc Học viện Pháp quốc năm 2011.</li>
<li>Giải thưởng Quốc tế Văn hóa Á châu Kukuoka, Nhật Bản (1996).</li>
<li>Huân chương Cành cọ Hàn lâm của Chính phủ Pháp (2002).</li>
<li>Thời gian công tác tại Trường: 1956 &#8211; 2004.</li>
</ul>
<p>+ Đơn vị công tác:</p>
<p>Bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại, Khoa Lịch sử.</p>
<p>Khoa Đông phương học.</p>
<p>+ Chức vụ quản lý:</p>
<p>Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Cổ trung đại đại, Khoa Lịch sử.</p>
<p>Chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Đông phương học (1993-2000).</p>
<p>Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1988-nay).</p>
<ul>
<li>Các hướng nghiên cứu chính: Lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm, Lịch sử và lịch sử văn hóa Việt Nam, Lịch sử kinh tế &#8211; xã hội Việt Nam.</li>
<li>Các công trình và giải thưởng khoa học tiêu biểu (trong số hơn 400 công trình):</li>
</ul>
<p><strong><em>Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ</em></strong>, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959.</p>
<p><strong><em>Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam</em></strong>, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960; in lần thứ hai, 1962.</p>
<p><strong><em>Tìm hiểu thêm về phong trào nông dân Tây Sơn</em></strong>, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1961.</p>
<p><strong><em>Khởi nghĩa Lam Sơn</em></strong> (đồng tác giả), in lần thứ ba, có bổ sung và sửa chữa, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977; in lần thứ tư, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2005.</p>
<p><strong><em>Lịch sử Việt Nam</em> </strong>(đồng tác giả), tập I, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983; tái bản 1985, 1991.</p>
<p><strong><em>Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam</em></strong>, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1990.</p>
<p><strong><em>Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay</em></strong> (Chủ biên), tập II, Hà Nội, 1996; tập III, Hà Nội, 1997.</p>
<p><strong><em>Tìm về cội nguồn</em></strong>, tập I, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1998; in lần thứ hai, 1999; tập II, 1999.</p>
<p><strong><em>The country life in the Red River delta</em></strong> (Co-author), The gioi Publisher, Hanoi, 1999</p>
<p><strong><em>Vietnam</em><em>, Art et Culture de la préhistoire à nos jour</em>s</strong> (đồng tác giả), Nxb. Snoeck, Bruxelles-Vienne, 2003.</p>
<p><strong><em>Địa bạ cổ Hà Nội</em> </strong>(Chủ biên), tập I, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2005, in lần thứ hai, 2010; tập II, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2008, in lần thứ hai, 2010.</p>
<p><strong><em>Lịch sử và Văn hóa Việt Nam, Tiếp cận bộ phận</em></strong>, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007; in lần thứ hai, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2012.</p>
<p><strong><em>Lịch sử Thăng Long &#8211; Hà Nội</em></strong> (Chủ biên), 2 tập, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2012.</p>
<p><strong><em>Lịch sử Việt Nam</em> </strong>(Chủ biên), tập I+II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2012</p>
<p><strong><em>Lịch sử Quân sự Việt Nam</em></strong> (Chủ biên), tập V, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.</p>
<ul>
<li>Giải thưởng khoa học tiêu biểu:</li>
</ul>
<p>+ Giải thưởng Nhà nước và khoa học và công nghệ năm 2000 cho công trình <em><strong>Tìm về cội nguồn </strong>(</em>2 tập<em>)</em>.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>GS.TS Phạm Hồng Tung</title>
		<link>https://icvns2025.vnu.edu.vn/gs-ts-pham-hong-tung-tu-hao-duoc-truong-thanh-tu-khoa-lich-su/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[icvns_admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 14 May 2025 17:52:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Nhà Khoa Học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://icvns2025.vnu.edu.vn/?p=10291</guid>

					<description><![CDATA[GS. TS Phạm Hồng Tung luôn tự hào được học tập và trưởng thành từ Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&#038;NV - một trong những cái nôi của nền sử học Việt Nam hiện đại, nơi ông có may mắn được nhiều bậc thầy tài năng và đức độ thương yêu dìu dắt, dạy bảo tận tình, được nhiều đồng nghiệp và bạn bè hết lòng giúp đỡ. Nhờ được sự định hướng của các thầy và của Khoa Lịch sử, ông đã miệt mài theo đuổi những hoài bão gắn liền với những hướng nghiên cứu cơ bản của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, như lịch sử các phong trào yêu nước và cách mạng của quần chúng nhân dân ở Việt Nam thời cận đại, Cách mạng tháng Tám năm 1945, một số vấn đề về lịch sử chính trị và văn hóa chính trị Việt Nam cận - hiện đại, các yếu tố và khía cạnh quốc tế của cuộc vận động phi thực dân hóa ở Việt Nam vv.. Ở hướng nghiên cứu nào, GS.TS Phạm Hồng Tung cũng có những đóng góp rất riêng, góp thêm những thông tin sử liệu, những cái nhìn, hướng tiếp cận và cách luận giải mới mẻ và sắc sảo.]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="fancybox"><div class="clearfix">
<div class="hometext m-bottom" style="text-align: center;"><strong>GS.TS Phạm Hồng Tung: Tự hào được trưởng thành từ Khoa Lịch sử</strong></p>
<p>GS. TS Phạm Hồng Tung luôn tự hào được học tập và trưởng thành từ Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&amp;NV &#8211; một trong những cái nôi của nền sử học Việt Nam hiện đại, nơi ông có may mắn được nhiều bậc thầy tài năng và đức độ thương yêu dìu dắt, dạy bảo tận tình, được nhiều đồng nghiệp và bạn bè hết lòng giúp đỡ. Nhờ được sự định hướng của các thầy và của Khoa Lịch sử, ông đã miệt mài theo đuổi những hoài bão gắn liền với những hướng nghiên cứu cơ bản của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, như lịch sử các phong trào yêu nước và cách mạng của quần chúng nhân dân ở Việt Nam thời cận đại, Cách mạng tháng Tám năm 1945, một số vấn đề về lịch sử chính trị và văn hóa chính trị Việt Nam cận &#8211; hiện đại, các yếu tố và khía cạnh quốc tế của cuộc vận động phi thực dân hóa ở Việt Nam vv.. Ở hướng nghiên cứu nào, GS.TS Phạm Hồng Tung cũng có những đóng góp rất riêng, góp thêm những thông tin sử liệu, những cái nhìn, hướng tiếp cận và cách luận giải mới mẻ và sắc sảo.</p></div>
<figure class="article center"><img decoding="async" class="img-thumbnail" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ts-pham-hong-tung-tu-hao-duoc-truong-thanh-tu-khoa-lich-su-3.jpg" alt="GS.TS Phạm Hồng Tung: Tự hào được trưởng thành từ Khoa Lịch sử" width="500" /><figcaption>GS.TS Phạm Hồng Tung: Tự hào được trưởng thành từ Khoa Lịch sử</figcaption></figure>
</div>
<div id="news-bodyhtml" class="bodytext margin-bottom-lg">
<p>GS.TS Phạm Hồng Tung là một trong không nhiều nhà khoa học được nhận chức danh giáo sư và để lại dấu ấn riêng trong nền sử học đương đại Việt Nam khi tuổi đời còn trẻ. Sau khi tốt nghiệp Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) ông may mắn được nhà trường tuyển làm cán bộ giảng dạy, sau đó được Trường cử đi học tập, nghiên cứu gần 10 năm liên tục tại CHLB Đức &#8211; một trong những quốc gia có nền giáo dục và khoa học cơ bản tiên tiến nhất ở châu Âu. Ông hoàn thành chương trình thạc sĩ loại ưu (<em>mit Auszeichnung</em>) năm 1997 tại Trường Đại học Tổng hợp Passau và chương trình đào tạo tiến sĩ loại xuất sắc (<em>magna cum laude) </em>tại Trường Đại học Tổng hợp Humboldt năm 2002. Trở về nước với hành trang là vốn kiến thức chuyên sâu, liên ngành về lịch sử và văn hóa Việt Nam, cùng với cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, ông tiếp tục được các bậc thầy khả kính dìu dắt, được Khoa Lịch sử và Trường ĐHKHXH&amp;NV tạo điều kiện để nhanh chóng hòa mình vào sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học với nhiều đóng góp quan trọng.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ts-pham-hong-tung-tu-hao-duoc-truong-thanh-tu-khoa-lich-su-4.jpg" alt="" /></p>
<p><em>Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Tung/Ảnh: Thành Long</em></p>
<p>Trên lĩnh vực đào tạo, GS.TS Phạm Hồng Tung đã và đang tham gia giảng dạy nhiều môn học/chuyên đề cho các cơ sở đào tạo thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, như môn Lịch sử Việt Nam cận đại<em>, </em>chuyên đề Lịch sử cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, chuyên đề Các xu hướng tư tưởng chính trị trong lịch sử cận đại Việt Nam cho sinh viên ngành Lịch sử Việt Nam; môn Văn hóa chính trị Việt Nam, chuyên đề Lịch sử chính trị Việt Nam cho sinh viên và học viên sau đại học ngành Chính trị học; các chuyên đề Không gian văn hóa châu thổ sông Hồng, Những vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu khu vực học, Việt Nam học ở Việt Nam và trên thế giới cho học viên và nghiên cứu sinh của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển. Ngoài ra, GS.TS Phạm Hồng Tung còn tham gia giảng dạy bằng tiếng Anh và tiếng Đức cho sinh viên và học viên, nghiên cứu sinh nước ngoài thuộc các chương trình đào tạo quốc tế như chương trình CIEE (Council of International Education Exchange) chương trình EAP (Education Abroad Program), các chương trình hợp tác với Đại học Tổng hợp Princeton và Đại học Tổng hợp Connecticut của Mỹ. Năm 2007, ông được Đại học Tổng hợp Freiburg (CHLB Đức), một trong những trường đại học nổi tiếng nhất ở châu Âu mời làm giáo sư thỉnh giảng. Ông cũng được Đại học Quốc gia Hà Nội phân công thực hiện một số bài giảng online cho Đại học Tổng hợp Tokyo (Nhật Bản) và Đại học Quốc gia Seoul v.v…; GS.TS Phạm Hồng Tung đã và đang tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh và học viên cao học, biên soạn giáo trình, bài giảng. Ông được biết đến như một thầy giáo có nền tảng kiến thức chuyên môn sâu rộng, cập nhật, phong cách sư phạm lôi cuốn, nghiêm khắc với bản thân và với học trò, nhưng cũng đầy trẻ trung, hài hước và cá tính. Có lẽ những ai là học trò của GS.TS Phạm Hồng Tung đều cảm nhận được rằng: thầy không chỉ mang lại cho mình kiến thức, mà quan trọng hơn là dạy cách tư duy, nhất là tư duy phê phán khoa học, truyền cho họ niềm đam mê và lòng dũng cảm khám phá những vấn đề “gai góc” của lịch sử.</p>
<p>GS. TS Phạm Hồng Tung luôn tự hào được học tập và trưởng thành từ Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&amp;NV &#8211; một trong những cái nôi của nền sử học Việt Nam hiện đại, nơi ông có may mắn được nhiều bậc thầy tài năng và đức độ thương yêu dìu dắt, dạy bảo tận tình, được nhiều đồng nghiệp và bạn bè hết lòng giúp đỡ. Nhờ được sự định hướng của các thầy và của Khoa Lịch sử, ông đã miệt mài theo đuổi những hoài bão gắn liền với những hướng nghiên cứu cơ bản của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, như lịch sử các phong trào yêu nước và cách mạng của quần chúng nhân dân ở Việt Nam thời cận đại, Cách mạng tháng Tám năm 1945, một số vấn đề về lịch sử chính trị và văn hóa chính trị Việt Nam cận &#8211; hiện đại, các yếu tố và khía cạnh quốc tế của cuộc vận động phi thực dân hóa ở Việt Nam vv&#8230;  Đây là những nội dung cơ bản, quan trọng của lịch sử Việt Nam cận &#8211; hiện đại đồng thời cũng là địa hạt diễn ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi nhất của giới nghiên cứu. Ở hướng nghiên cứu nào, GS.TS Phạm Hồng Tung cũng có những đóng góp rất riêng, góp thêm những thông tin sử liệu, những cái nhìn, hướng tiếp cận và cách luận giải mới mẻ và sắc sảo.</p>
<p><img decoding="async" src="https://icvns2025.vnu.edu.vn/wp-content/uploads/2025/05/gs-ts-pham-hong-tung-tu-hao-duoc-truong-thanh-tu-khoa-lich-su-5.jpg" alt="" /></p>
<p><em>Thầy là Nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQGHN/Ảnh: Thành Long</em></p>
<p>Trong thực tiễn nghiên cứu của mình, GS. Phạm Hồng Tung luôn chú trọng tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của sử học, đó là sự nghiêm cẩn trong phê phán sử liệu, trung thực, khách quan, toàn diện và cụ thể. Ông thường chia sẻ với đồng nghiệp và học trò nguyên tắc đảm bảo tính đa chiều trong tiếp cận và luận giải các sự kiện, nhân vật và quá trình lịch sử. Với ông, bản thân sử học đã là một khoa học liên ngành, và vì vậy, việc phối hợp vận dụng nhiều hệ thống phương pháp và cách tiếp cận của sử học và các khoa học chuyên ngành khác như xã hội học, nhân học, văn hóa học, kinh tế học, triết học, khoa học chính trị, khu vực học vv&#8230; trong nghiên cứu được ông rất quan tâm. Ông cũng rất coi trọng sự hợp tác và đối thoại trong nghiên cứu lịch sử. Ông tham gia nhiều nhóm nghiên cứu ở cả Việt Nam và nước ngoài để hoàn thành các chương trình nghiên cứu liên ngành về lịch sử, văn hóa và xã hội của Việt Nam và của khu vực Đông Nam Á và Đông Á. Với tinh thần khoa học thực sự cầu thị và nghiêm túc, GS.TS Phạm Hồng Tung tham gia nhiều hội thảo, hội nghị và các diễn đàn khoa học ở cả trong và ngoài nước, nơi ông luôn sẵn sàng chia sẻ ý kiến, quan điểm, phương pháp, đóng góp thông tin tư liệu và cũng không ngần ngại tranh luận quyết liệt với đồng nghiệp để cùng làm sáng tỏ hơn những tồn nghi học thuật.</p>
<p>Bên cạnh công tác giảng dạy và nghiên cứu, trong những năm gần đây GS. Phạm Hồng Tung còn tham gia công tác quản lý, lãnh đạo, chủ yếu là công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở ĐHQGHN. Do vậy mà hoạt động quản lý vẫn luôn gắn chặt với hoạt động chuyên môn, tạo điều kiện cho ông có dịp tiếp xúc, làm việc với đội ngũ đông đảo các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Thông qua đó, ông càng có dịp học hỏi thêm, mở rộng tầm nhìn và hiểu biết của mình.</p>
<p>Mặc dù đã đạt được một số thành tựu nổi bật trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận &#8211; hiện đại, GS. Phạm Hồng Tung vẫn chia sẻ, rằng đó mới chỉ là những kết quả bước đầu; rằng công việc và mục tiêu ông vươn tới vẫn còn đang ở phía trước. Hy vọng với hoài bão, tài năng và sự miệt mài vốn có của mình, ông tiếp tục có những đóng góp có giá trị to lớn hơn nữa cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của nước nhà.</p>
</div>
</div>]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
